Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan về xung đột môi trường giữa khu công nghiệp và khu dân cư 1. Khái niệm xung đột môi trường Xung đột môi trường (XĐMT) được đặc trưng bởi sự suy thoái môi trường qua một hay những khía cạnh sau: lạm dụng nguồn tài nguyên có thể tái sinh, hoặc tình trạng căng thang về năng lực môi trường trong công tác kiểm soát ô nhiễm. Từ đó, chất lượng môi trường sống ngày càng bị suy giảm (Nguyễn Tuấn Anh, 2011).
Đặc điểm xung đột môi trường Quá trình hình thành và phát trién xung đột thường trải qua 3 bậc: mâu thuẫn — tranh chấp — xung đột. Tuy nhiên, 3 giai đoạn này không hoàn toản tách rời nhau, giai đoạn này có thé là nguyên nhân hoặc kết qua của giai đoạn kia (Lê Ngoc Thanh và ctv, 2016). Theo Lê Vân Trình (2002), xung đột môi trường có một số đặc điểm sau: - Xung đột không phải là kết quả cho những sai lầm của bất cứ đối tượng nào hay bat cứ hệ thống nào. Nó là một bộ phận hiển nhiên của quá trình biến đôi.
- Xung đột là một bước quan trọng trong quá trình giải quyết vấn đề. - Xung đột có thể chia sẻ, không phải là trách nhiệm của riêng ai hoặc của riêng nhóm nảo. - Xung đột có thé quản lý được nhưng cần có thời gian và nguồn lực. Tiêu chí phần loại xung đột Theo nghiên cứu của Lê Ngọc Thanh và ctv (2016), có 9 tiêu chí để phân loại xung đột, bao gồm: 1.
Phân loại theo quy mô Dựa vào các đối tượng có liên quan mà chia làm 04 nhóm như sau: - Quy mô nhỏ: là các xung đột giữa cá nhân/hộ gia đình và một công ty/doanh nghiệp cụ thể; - Quy mô nhóm: là các xung đột giữa các nhóm hộ gia đình với nhóm công ty/doanh nghiệp hoặc giữa một KCN và khu dân cư xung quanh KCN đó; - Quy mô địa phương: là các xung đột giữa các địa phương với nhau, có thé là xung đột giữa các quận/huyện trong một tinh hoặc giữa các tỉnh/thành phố với nhau; - Quy mô quốc gia: là những xung đột lớn, khó giải quyết và nếu không được kiểm soát tốt thì hoàn toàn có thé trở thành xung đột vũ trang giữa các quốc gia. Phân loại theo mức độ - Mức độ thấp: là những sự khác biệt về quan điểm. về nhận thức, về trình độ giữa các bên có liên quan. Nếu trong giai đoạn tiềm an xung đột có những giải pháp thỏa đáng đi đến sự nhất trí, thỏa hiệp, chia sẻ lợi ích thì sẽ hạn chế được những xung đột phát sinh; - Mức độ cao: là những xung đột có thé dẫn tới những nguy cơ về an ninh xã Ngoài ra, có thê phân loại xung đột thành 03 mức độ từ thấp đến cao như sau: mâu thuẫn — tranh chấp — xung đột.
Phần loại theo cường độ - Không nghiêm trọng: xung đột không bắt nguồn từ những chênh lệch lợi thế về quyền lực, lợi ích, đồng thời các bên đương sự đều hiểu rất rõ điều đó không dẫn đến những tác hại quá lớn cho mỗi bên; - Ít nghiêm trọng: xuất hiện giữa các đương sự đang hoạt động trên cùng một địa bàn, trong chừng mực nào đó họ dé dang dan xép với nhau; - Nghiêm trọng: có thé dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ của các đương sự như khiếu kiện, biểu tình, chặn đường,.; - Rất nghiêm trọng: đây là những xung đột bắt nguồn từ những bất bình đẳng lớn về quyền lực, về tài chính, chính trị. Ở mức độ này, có thé dẫn tới xung đột vũ trang. Phân loại theo tính chất - Xung đột tiêu cực là những xung đột gây ảnh hưởng không tốt đến các đối tượng trong xung đột, có thé gây tôn hại đến sức khỏe, gây can trở phát triển kinh tế; - Xung đột tích cực là những xung đột xảy ra như một việc tất yếu thúc đây xã hội phát triển. Thông thường xung đột được hiểu theo nghĩa tiêu cực.
Nếu xung đột được hiểu như tat yéu xã hội phát sinh từ nguyên nhân của sự phát triển, thì cần được hiểu ở cả nghĩa tích cực lẫn nghĩa tiêu cực. Tự bản thân xung đột không nhất thiết là xấu, mà là tín hiệu cho sự cần thiết phải thay đổi theo chiều hướng phát triển tốt hơn. Không có xung đột không phải lúc nào cũng tốt, vì điều đó chỉ ra sự thờ ơ, không hiểu biết, kém năng lực của cộng đồng. Điều kiện như vậy có thể làm cản trở mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường so với tồn tại xung đột nhưng được quản lý tốt.
Phần loại theo tương quan - Xung đột một chiều: bên liên quan này gây hại cho bên liên quan kia và chưa có phản ứng ngược lại; - Xung đột hai chiều: bên liên quan này gây hại cho bên liên quan kia và nhận những phản ứng ngược lại. Phân loại theo đối tượng - Xung đột không gian: khi chức năng không gian của môi trường trở thành tai nguyên vị thế; - Xung đột tai nguyên: tranh chap sử dụng tài nguyên giữa các nhóm xã hội; - Xung đột đầu tư: sức hút của lĩnh vực này làm giảm nhẹ sức hút của lĩnh vực khác. Phan loại theo nguyên nhân Theo Vũ Cao Đàm (2002), dựa trên nguyên nhân có 04 loại xung đột: - Xung đột nhận thức: xung đột đơn giản nhất, có căn nguyên từ sự hiểu biết khác biệt nhau dẫn đến hành động phá hoại môi trường của các đương sự; - Xung đột mục tiêu: mục tiêu hoạt động khác nhau của các đương sự dẫn đến xung đột: - Xung đột lợi ích: xuất hiện khi các đương sự tranh giành lợi thế sử dụng tải nguyên; - Xung đột quyền lực: đương sự có quyền lực mạnh hơn lắn át, chiếm dụng lợi thé của đương sự khác, dẫn đến xung đội. Phan loại theo hành động Tùy mức độ mắt cân bằng về quyền lực, có thê tồn tại 03 loại hành động xung đột như sau: - De doa: là đặt đương sự trước những nguy cơ tiềm ân bằng các phương tiện quyên lực để thúc đây họ rẽ sang hướng khác, dẫn đến bat lợi cho ban thân đương sự: - Trừng phạt: là gây những tác động làm hại tới quyên lực, tài chính hoặc danh dự của đương sự (hành động trừng phạt xuất hiện khi hành động đe doạ tỏ ra không có tac dụng, khi đó đương sự de doa chuyên sang dùng các phương tiện quyền lực gây hại cho đương sự xung đột); - Đàm phán: là sự thương lượng của các đương sự xung đột để tìm kiếm những giải pháp chia sẻ quyền lợi (đàm phán xảy ra khi đương sự trừng phạt nhận thấy tiếp tục trừng phat sẽ tốn kém hoặc mạo hiểm so với kết quả có thé thu được từ đàm phán).
Phan loại theo thoi gian Bên cạnh 08 tiêu chí phân loại theo Lê Ngọc Thanh và ctv (2016), các xung đột môi trường giữa khu công nghiệp và khu dân cư trong Đề tài này sẽ được phân loại theo thời gian. Phạm vi của Đề tài là khảo sát xung đột môi trường từ năm 2017 đến năm 2021 nên có thé chia thành các mốc thời gian như sau: Giai đoạn 1 (2017 — 2018), Giai đoạn 2 (2018 — 2019), Giai đoạn 3 (2019 — 2020), và Giai đoạn 4 (2020 — 2021). Các đối tượng trong xung đột môi trường Theo Vũ Cao Đàm (2002): - Xung đột trong cộng đồng không phân chia nhóm xâm hại và nhóm bị xâm hại. Đây là những xung đột xuất hiện trong quá trình chia sẻ các nguồn lợi tài nguyên và môi trường.
Dạng xung đột này có thể tồn tại trên quy mô rất nhỏ giữa hai gia đình, xong cũng có thê tồn tại giữa hai địa phương, thậm chí giữa hai quốc gia. - Xung đột có phân chia chiến tuyến giữa một bên là nhóm xâm hại và một bên là nhóm bị xâm hoại. Đây là trường hợp mối quan hệ giữa các xí nghiệp, bệnh viện và cộng đồng dân cư. Dạng quan hệ này cũng tồn tại giữa hai địa phương hoặc hai quốc gia, trong đó không có sự tranh chấp mà chỉ tồn tại hai bên, một bên là bị hại và một bên là gây hại.
- Xung đột giữa cơ quan quản lý môi trường với dân cư. Đây là những xung đột xuất hiện trong quá trình xử lý các xung đột: các bên trong cộng đồng dân cư có thể không chấp nhận các giải pháp xử lý và họ đều đứng về phía đối lập với các nhà quản lý. Dạng xung đột này xuất hiện có thể do nhiều nguyên nhân: các giải pháp có thể đối xử bat công giữa bên bị hại và bên gây hại; cũng có thé do các bên trong dân cư đưa ra các yêu sách không thật sự thỏa đáng, đặt nhà quản lý trước những vấn đề nan giải. - Xung đột giữa các cơ quan quyền lực trong chức năng quản lý môi trường với nhau.
Đây là trường hợp xuất hiện bất đồng giữa các cơ quan chức năng có liên quan, hoặc là giữa các cơ quan chức năng có sự bất đồng về cách nhìn nhận vấn đề hoặc giữa họ có sự bất đồng quan điểm trong các giải pháp xử lý; hoặc là mỗi cơ quan có sự đối xử thiên vị với một bên đương sự. Nguyên nhân và hậu quả của xung đột 1. Nguyên nhan Theo Lê Thanh Bình và Phạm Thị Bích Hà (2002), các nguyên nhân dẫn đến xung đột có thể phân thành 02 nhóm: (a) Nhóm nguyên nhân xa hay gián tiếp Những nguyên nhân này không liên quan trực tiếp với các bên xung đột, bao gồm: - Gia tăng dân số hoặc di cư: khi dân số tăng nhanh, khả năng cung cấp nơi cư trú, khoảng không gian sống cho con người, cung cấp nguồn nguyên liệu bị vi phạm mạnh. Di dân từ nông thôn ra đô thị, từ nông thôn đến nông thôn, vùng này đến vùng khác; tiến hành khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tác động lên môi trường tự nhiên; - Tăng trưởng kinh tế: kinh tế phát triển dẫn đến nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp phát triển.
Điều này sẽ làm giảm diện tích đất sử dụng của người dan, anh hưởng đến sinh kế; - Cơ chế, chính sách yếu kém: các cơ chế, chính sách yếu kém; trong đó quyền sở hữu/sử dụng tài nguyên không được xác định rõ. Khi đó, tài nguyên có xu thế trở thành tài sản công cộng, không khuyến khích người dân tự nguyện đầu tư bảo vệ và phát triển.