MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là đất nước đang phát triển, với nền kinh tế ngày càng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng bên cạnh đó không thể phủ nhận được vai trò to lớn của nông nghiệp trong nền cơ cấu kinh tế Việt Nam. Theo như số liệu của Tổng cục Thống kê (2021), GDP của khu vực 1 (nhóm ngành Nông – Lâm – Ngư) năm 2015 đạt 462.536 nghìn tỷ đồng, đến năm 2020 đạt 524.317 nghìn tỷ đồng. Với đóng góp khoảng gần 20% tổng giá trị GDP cả nước, KV1 của Việt Nam hiện đang là một nhóm ngành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.
Trong đó, ngành trồng trọt chiếm đến từ 64-68% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp. Trong đó, tổng diện tích trồng lúa trên cả nước cũng đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế thị trường của Việt Nam, góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam lên hàng xuất khẩu gạo đứng Top trên thế giới. Là cây trồng hàng năm chủ lực của nền nông nghiệp nước nhà, tổng diện tích lúa năm 2021 đạt 7,24 triệu hecta (Tổng cục Thống kê, 2022). Với nền kinh tế là một nước nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước với diện tích cao.
Hằng năm, lượng phế phụ phẩm qua quá trình sản xuất lúa bị thải bỏ là rất lớn. Trước đây, khi đời sống của nhân dân chưa cao, phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ…) được tận dụng làm chất đốt trong mỗi gia đình nông dân, hoặc quay vòng làm đầu vào cho quá trình chăn nuôi gia súc như trâu, bò… Ngày nay, quá trình cơ giới hoá ngày càng cao, đời sống nhân dân tăng lên, mỗi nhà đều có sử dụng gas để đun nấu, gia súc thì được nuôi tập trung. Cho nên phế phụ phẩm nông nghiệp ngày càng bị thải bỏ, và không được tận dụng triệt để. Chưa kể đến có những nông hộ sử dụng biện pháp xử lý đối với 1 rơm rạ sau thu hoạch lúa là đốt ngay tại ruộng, gây ô nhiễm không khí tại khu vực, dẫn đến mất an toàn giao thông trong các đường xung quanh, gây mất mỹ quan của địa phương.
Phường Quảng Thành (trước đây là xã Quảng Thành) là một phường với nền kinh tế thuần nông, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước những năm gần đây thu nhập người dân dần cải thiện hơn, đời sống nhân dân được tăng cao. Với diện tích đất trồng lúa cao, thâm canh giống lúa mới theo chỉ đạo của cán bộ khuyến nông, năng suất lúa của toàn phường ngày một tăng, bên cạnh đó lượng phế phụ phẩm từ quá trình trồng lúa cũng tăng lên nhiều hơn. Tổng thể, nguồn phế phụ phẩm này phần lớn là bị đốt trực tiếp ngay tại ruộng gây nên tình trạng ô nhiễm không khí mỗi khi vụ lúa được thu hoạch. Việc xử lý triệt để được phế phụ phẩm từ quá trình trồng lúa không chỉ giải quyết được việc hao tổn lượng lớn tài nguyên đang mất đi, mà còn giải quyết được vấn đề ô nhiễm không khí sau mỗi vụ thu hoạch lúa.
Do tính chất, và mức độ quan trọng như vậy nên em xin thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp trên địa bàn phường Quảng Thành – Tp. Thanh Hoá – tỉnh Thanh Hoá” để nâng cao được ý thức người dân trong việc tái sử dụng tài nguyên và nhằm giảm được ô nhiễm không khí từ hoạt động trồng lúa tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá thực trạng xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại địa bàn Phường Quảng Thành – Tp. Thanh Hoá – Tỉnh Thanh Hoá.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý, xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp nhằm nâng cao việc tái sử dụng tài nguyên. 2 CHƯƠNG 02: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về phế phụ phẩm nông nghiệp Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa rằng “Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác.
Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng”. Theo như khái niệm trên Litteritcostsyou.org đăng tải chất thải hay còn gọi là rác thải có thể là bao bì, túi nilon, túi đựng thức ăn, giấy… Như vậy, rác thải là là tất cả những gì chúng ta không dùng tới và thải ra môi trường xung quanh. Chúng ta có thể tìm thấy rác thải ở bất cứ nơi đâu từ nông thôn đến thành thị, từ đất nước nghèo đói đến các cường quốc lớn mạnh. Các loại chất thải nếu không được xử lý sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.
Báo cáo môi trường quốc gia (2011) cho rằng “Chất thải rắn nông nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, thu hoạch nông sản, bao bì đựng phân bón, thuốc BVTV, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật,. Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu nêu khái niệm “Các chất thải nguy hại là bao bì chứa hóa chất độc hại hoặc sản phẩm hóa chất độc hại sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp phải được thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại”. Nguồn gốc phát sinh Nguồn gốc phát sinh phế thải nông nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau được biểu thị tóm tắt như sau: Hình 2.1: Nguồn phát sinh phế phụ phẩm nông nghiệp Phế phụ phẩm nông nghiệp phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ bốn nguồn chính như trên hình 2. Trong quá trình trồng trọt, phế phụ phẩm nông nghiệp chính là các xác thực vật đã chết, cành lá được cắt tỉa và các loại cây cỏ bị con người loại bỏ trong khi chăm sóc cây trồng.
Trong quá trình sinh trưởng của cây, để giúp cây phát triển tốt và chống lại các loại sâu bệnh con người đã sử dụng các loại hóa chất BVTV, các loại phân bón hóa học để bón cho cây trồng nhưng chai lọ và bao bì đựng các hóa chất đó lại bị vứt bừa bãi trên đồng ruộng trở thành phế phụ phẩm nông nghiệp. 4 Ngoài ra, phế phụ phẩm nông nghiệp còn phát sinh trong quá trình thu hoạch nông sản …Đây là nguồn phế thải chính trong tàn dư thực vật, hiện đang là nguồn gây ô nhiễm trầm trọng nếu không được xử lý kịp thời(Nguyễn Xuân Thành và cộng sự, 2011). Phân loại và thành phần của phế phụ phẩm nông nghiệp ❖ Phân loại: Phế thải đồng ruộng được phân loại theo nhiều cách khác nhau như: theo nguồn gốc phát sinh, tính nguy hại, thành phần hóa học và theo khả năng phân hủy sinh học (Nguyễn Xuân Thành và cộng sự, 2011). Theo nguồn gốc phát sinh: phế phụ phẩm gồm các phế thải có nguồn gốc từ các phế phụ phẩm trồng trọt và từ các bao bì đựng các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp.
Các phế phụ phẩm trồng trọt gồm các loại phế thải trong quá trình thu hoạch và chế biến nhiều loại cây trồng khác nhau như: các loại rơm, rạ sau thu hoạch lúa tại các cánh đồng, các loại lá, thân cây, cỏ dại tại các vườn cây, các phần giập của cây lúa không sử dụng được ở các ruộng sau khi thu hoạch… Chất thải từ các bao bì đựng các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp gồm chai, lọ… bằng thủy tinh hoặc nhựa được dùng làm vỏ đựng thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc diệt côn trùng, thuốc chữa bệnh cho động vật sau khi đã qua sử dụng được thải bỏ, các túi nilon, túi giấy dùng đựng phân bón vi sinh, phân đạm, phân lân và kể cả các hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) đã quá hạn sử dụng… Đây là các vật phẩm có tính nguy hại cao, cần phải có biện pháp thu gom và xử lý thích hợp. Theo tính chất nguy hại: phế phụ phẩm được chia làm hai loại: phế thải nguy hại và phế thải thông thường. 5 + Phế phụ phẩm nông nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Bao gồm các chất thải không chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường và sức khoẻ con người, bao gồm rơm rạ, thân lá thực vật… (Lê Văn Nhương và cộng sự, 1998).
+ Phế phụ phẩm nông nghiệp dạng nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (chai lọ đựng hóa chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng), có chứa các chất hoặc hợp chất gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại gián tiếp tới môi trường và sức khoẻ con người. Bao bì hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón. Trong hoạt động trồng trọt, tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát. Do đó, có chứa các chất hoặc hợp chất gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại gián tiếp tới môi trường và sức khoẻ con người.
Theo thành phần hóa học: phế phụ phẩm được phân thành phế thải hữu cơ và phế thải vô cơ. Phế thải hữu cơ chiếm thành phần chủ yếu trong phế phụ phẩm nông nghiệp, bao gồm các phế phụ phẩm trồng trọt như: rơm rạ, thân ngô, lõi ngô, trấu, bã mía… Theo thống kê, 95% lượng phế thải hữu cơ trong nông nghiệp có khả năng tận dụng làm phân bón hoặc thu hồi nhiệt lượng. Phế thải vô cơ bao gồm các túi đựng phân hóa học, túi đựng thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật, chai lọ đựng thuốc trừ sâu, bình phun hóa chất bảo vệ mùa màng đã hỏng… (Lê Văn Nhương và cộng sự, 1998). Theo khả năng phân hủy sinh học: phế phụ phẩm được phân thành chất có khả năng và không có khả năng phân hủy sinh học.
6 Chất thải có khả năng phân hủy sinh học là các loại chất thải có thành phần hữu cơ cao và chứa thành phần dinh dưỡng thuận lợi cho quá trình sinh trưởng của các vi sinh vật (VSV). Các chất thải có khả năng phân hủy sinh học tốt như: cỏ dại, lá cây…các chất có khả năng phân hủy sinh học kém hơn như: rơm rạ, thân cây. Còn chất thải không có khả năng phân hủy sinh học là các chất vô cơ như: kim loại, nhựa, thủy tinh. ❖ Thành phần: Phế phụ phẩm trồng trọt trên đồng ruộng mà chủ yếu là phế thải hữu cơ có thành phần rất phong phú và đa dạng.