Phần Mở đầu, Phần Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đánh giá viên chức. Thực trạng đánh giá viên chức tại Liên đoàn Vật lý Địa chất, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá viên chức tại Liên đoàn Vật lý Địa chất, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trong thời gian tới.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VIÊN CHỨC 1. Những vấn đề chung về viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm viên chức Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức là những khái niệm quan trọng trong các nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công. Ở Việt Nam, ngày 15-11-2010, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật Viên chức số 58/2010/QH12, trong đó nêu khái niệm viên chức, giúp phân định các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức vốn còn chƣa rõ ràng trƣớc đó.
Luật Viên chức 2010 gồm 6 chƣơng, 62 điều quy định về viên chức; quyền hạn, nghĩa vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Viên chức có hiệu lực từ ngày 01-01-2012. Với sự phân biệt khái niệm viên chức với cán bộ và công chức, điểm khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lƣơng đƣợc hƣởng từ quỹ tiền lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Viên chức nêu rõ “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc làm nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các văn bản khác có liên quan”.
Theo Luật viên chức 2010, “Viên chức là những người được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập và hưởng lương từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [37, tr1]. Đây cũng là khái niệm đƣợc sử dụng thống nhất ở nƣớc ta khi nghiên cứu về viên chức. Phân loại viên chức Theo quy định thì viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp 9 đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức đƣợc phân loại theo vị trí việc làm hoặc đƣợc phân loại theo chức danh nghề nghiệp.
Trong đó, vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tƣơng ứng, là căn cứ xác định số lƣợng ngƣời làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nguyên tắc, phƣơng pháp xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định số lƣợng vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của Chính phủ. Quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 29/2012/NĐ-CP thì theo vị trí việc làm, viên chức đƣợc phân loại nhƣ sau: - Viên chức quản lý bao gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhƣng không phải là công chức và đƣợc hƣởng phụ cấp chức vụ quản lý. - Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những ngƣời chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Đặc điểm của viên chức Theo điều 4 Luật Viên chức: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và pháp luật có liên quan "[37, tr1]. Do đó, viên chức Việt Nam có những đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. 10 Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là ngƣời đƣợc đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm.
Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng nhƣ sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” [37, tr3]. Vị trí việc làm đƣợc hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” [37, tr2]. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thƣờng xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để đƣợc tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phƣơng thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010).
Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 đƣợc hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”[37, tr3]. Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức đƣợc tính kể từ khi đƣợc tuyển dụng. Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật Lao động.
Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của 11 mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội thành lập để cung cấp dịch vụ công, phục vụ cho việc quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực nhƣ giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thƣơng binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác đƣợc pháp luật quy định. Những đơn vị thuộc sở hữu Nhà nƣớc, đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này do cơ quan chức năng của Nhà nƣớc bổ nhiệm hoặc bãi miễn.
Cụ thể theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 có đề cập về khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Những vấn đề chung về đánh giá viên chức 1. Khái niệm đánh giá viên chức Đánh giá là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan các kết quả đạt đƣợc của một dự án, chƣơng trình hoặc một chính sách đã hoặc 12 đang thực hiện. Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành của kết quả đạt đƣợc so với các mục tiêu, tính hiệu quả, những tác động khác của kết quả.
Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép áp dụng những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của các nhà quản lý và đối tƣợng quản lý. Nhƣ vậy, đánh giá là quá trình tác động một cách có hệ thống và khách quan một dự án, chƣơng trình hoặc một chính sách đang đƣợc thực hiện hoặc đánh giá hoàn thành từ giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt đƣợc. Qua nhiều năm, đánh giá đƣợc xem nhƣ một quá trình đối lập, mục đích sử dụng chính của nó là cung cấp sự “tán thành” hay “phản đối” về một chƣơng trình hoặc một dự án. Đánh giá cung cấp các thông tin cho những ngƣời theo hƣớng lợi khác nhau, nó cho phép dự án thực hiện tốt hơn và chứng tỏ đƣợc giá trị của chúng, nó cũng cung cấp cho các nhà quản lý các dữ liệu họ cần để báo cáo kịp thời nhằm để thông tin tới những ngƣời ra quyết định cấp cao về kết quả của sự đầu tƣ của họ.
Theo đó, đánh giá không phải là một hoạt động riêng lẻ mà thực chất là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động và có thể chia thành các nhóm và các hoạt động cụ thể. Quá trình theo dõi, đánh giá bao gồm ba hoạt động chính là: Đo lƣờng hoạt động hiện tại với những chuẩn mực đã đƣợc vạch ra; tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần thiết để khắc phục những sai lệch nếu có. Có quan điểm cho rằng đánh giá là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan về một dự án đang tiến hành hoặc đã hoàn thành, bao gồm cả việc thiết kế, thực hiện và kết quả của nó. Mục đích của đánh giá là nhằm xác định tính hợp lý và hiện thực của các mục tiêu, hiệu quả phát triển, tác động và tính bền vững của các dự án.
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm coi đánh giá có nghĩa nhận định giá trị. Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét.