Chương 1 TỎNG QUAN 1. Khoáng sản và khai thác khoáng sản 1. Khoáng sản Khái niệm Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sông con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm do, khai thác, chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật.
Khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dang những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể ran, thé long, thé khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thê được khai thác lại, cũng là khoáng sản (khoản 1 Điều 3 Luật khoáng sản 1996; Luật sửa đổi, bồ sung một số điều của Luật khoáng sản 2005). Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 có quy định về “khái niệm Khoáng sản là gì?” như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thé khí tồn tai trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Phân loại khoáng sản Phân loại theo công dụng Theo công dụng, khoáng sản được chia thành các loại sau: - Khoáng sản năng lượng: Điển hình như khí đốt, dầu mỏ, than đá, than bùn.
được sử dụng làm nhiên liệu cho ngành công nghiệp năng lượng hoặc công nghiệp hóa chất. - Khoáng sản kim loại: Được chia thành ba nhóm chính gôm kim loại đen như crom, sắt, titan,. được sử dụng trong ngành công nghiệp luyện kim đen để sản xuất, chế tạo ra thép, gang,. Kim loại màu, điển hình như kẽm, đồng, chì,.
phục vụ cho ngành công nghiệp luyện kim mau dé sản xuất ra đồng, kẽm chi,. Kim loại quý như kim cương, vàng, các loại đá quý,. được ứng dụng làm trang sức. - Khoáng sản phi kim loại: Điền hình như đất sét, đá vôi, cát, sỏi,.
được ứng dụng dé sản xuất ra đồ gốm sứ, vật liệu xây dựng. - Thủy khoáng: Vi dụ như nước khoáng, nước ngọt ở đưới lòng dat,. - Nguyên liệu khoáng - hóa: Gồm có apatit và nhiều loại muối khoáng như: barit, photphat,. Dựa theo trạng thai vat ly, khoáng san được chia thành: - Khoang san ran: Ví du như các quặng kim loại,.
- Khoáng sản lỏng: nước khoáng, dau mỏ. - Khoáng sản khí: điển hình như khí tro, khí đốt,. Khai thác khoáng sản Ở Việt Nam, khai thác khoáng sản là một khái niệm đã được luật hóa. Theo Luật khoáng sản năm 2010, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai dao, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan.
Khai thác khoáng sản là hoạt động được tiễn hành sau khi đã có giấy phép khai thác của cơ quan nhà nước có thầm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường). Ở Việt Nam, KTKS là một khái niệm đã được luật hóa. Theo Luật Khoáng sản năm 2010, KTKS là hoạt động nhằm thu hồi khoáng san, bao gồm xây dung cơ bản mỏ, khai dao, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. KTKS là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác của cơ quan nhà nước có thâm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường).
Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản 1. Khái niệm quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản Từ các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhu: Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác; quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định; quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cộng sự trong cùng một tổ chức; quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đuợc những mục tiêu của tô chức. Theo cách tiếp cận hệ thống, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thé quản lý lên đối tượng quản lý và khách thé quan lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dé dat được mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quản lý xuất hiện như một tat yếu khách quan.
QLNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân. Có nhiều khái niệm khác nhau về QLNN, điền hình như “QLNN là dạng quan lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước dé điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”. Giáo trình QLNN về kinh tế của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa QLNN như sau: “QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối v.dé dat được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định". Hiện chưa có khái niệm cụ thé, chính xác thé nào là QLNN về KTKS, song từ các khái niệm nêu trên có thé định nghĩa quản lý nhà nước về KTKS như sau: QLNN về KTKS là sự tác động có tô chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động KTKS dé đảm bảo nguồn tài nguyên khoáng sản được khai thác hợp lý.
Nói cách khác, QLNN về KTKS là hoạt động Nhà nước với việc sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp tác động đến hoạt động KTKS nhằm đạt được mục tiêu trong quá trình quản lý. Dé thực hiện vai trò quản lý của minh, Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ cần thiết như công cụ định hướng (Quy hoạch, Chiến lược phát triển), công cụ kinh tế (thuế); công cụ pháp lý (hệ thống pháp luật, các văn bản pháp quy.), công cụ tổ chức, giáo dục. Diém khác biệt giữa QLNN về KTKS với các dang quản lý khác chính là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý cụ thể của nó, cùng với nó là các công cụ, phương tiện quản lý mà Nhà nước sử dụng để tác động đến hoạt động KTKS. Mục tiêu quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản Mục tiêu quản lý được hiểu là trạng thái mong đợi có thé có của đối tượng quản lý (hệ thống) tại một thời điểm nào đó trong tương lai hoặc sau một thời gian nhất định.
Mục tiêu quản lý là cái đích phải đạt tới của quá trình quản lý, nó vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản có những mục tiêu sau: - Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là cái đích cần đạt tới của QLNN. Dé đạt được mục tiêu tong thé chung, Nhà nước (chủ thé quản lý) phải đặt ra mục tiêu cụ thé đối với từng lĩnh vực quản lý. Mục tiêu quan lý này không phải bat biến ma mỗi giai đoạn phát triển có những mục tiêu quản lý riêng, phù hợp.
Có thé khang định, hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển. Hiệu quả kinh tế - xã hội được thể hiện qua các chỉ tiêu về thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người lao động và tái phân phối lợi tức xã hội. Dé đạt mục tiêu trên đòi hỏi công tác quản lý của nhà nước phải chặt chẽ dé việc KTKS dam bảo tiết kiệm, hiệu quả, tránh rơi vào hiện tượng “lời nguyễn tài nguyên” (các quốc gia giàu tài nguyên có tốc độ tăng trưởng kinh tế và thành tựu phát triển xã hội thấp hơn các quốc gia nghèo tài nguyên). Hạn chế tác động xấu của hoạt động KTKS đến môi trường.
Khoáng sản là thành phần của môi trường, là yếu tố tạo thành môi trường nên việc KTKS có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Cả về lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy KTKS là một trong những hoạt động có tác động xấu đến môi trường (chất thải ran, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, gây tiếng ồn và chấn động. Do vậy, hạn chế tác động của KTKS đến môi trường sinh thái là một mục tiêu quan trọng trong QLNN về KTKS. Bảo vệ quyền sở hữu toàn dan đối với khoáng sản ma Nhà nước là đại diện.
Trên cơ sở khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, các quy định pháp luật về khoáng sản, KTKS phải thể hiện rõ các quyền của chủ sở hữu. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô - Pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước về khai thác khoáng sản Trong thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách quan trọng về lĩnh vực khoáng sản, trong đó có KTKS. Việc ban hành các văn bản pháp luật về KTKS và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở cho các cơ quan của nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý về KTKS. - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong một thời kỳ dài.
Việc QLNN về KTKS phải tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung của đất nước.Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của nước ta tại văn kiện Đại hội XI của Đảng, đã nêu rõ quan điểm: + Đồi mới cơ chế quản lý tài nguyên. + Quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Đây chính là định hướng dé từ đó xây dựng các các chính sách về KTKS một cách phù hợp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.