Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như ASEAN đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về đào tạo nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao thông thạo ngoại ngữ. Tại Trường Đại học Luật TP.HCM, tiếng Anh chuyên ngành Luật (ESP for Law) là học phần bắt buộc nhằm trang bị năng lực làm việc thực tế cho sinh viên. Trong suốt giai đoạn 15 năm từ năm 1994 đến năm 2009, nhà trường đã trải qua 4 lần thay đổi giáo trình giảng dạy do những bất cập về độ khó thuật ngữ và sự thiếu cân đối giữa các kỹ năng ngôn ngữ. Luận văn thạc sĩ của tác giả Tạ Thị Nguyệt tập trung đánh giá toàn diện bộ giáo trình mới mang tên "Introduction to Law in English" gồm 150 tiết học, được thiết kế và đưa vào giảng dạy chính thức cho sinh viên chuyên ngành luật từ năm 2007.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế năng lực đầu vào của người học còn nhiều hạn chế. Số liệu kiểm tra xếp lớp cho thấy chỉ có khoảng 21% sinh viên Khóa 31 và hơn 22% sinh viên Khóa 32 đạt yêu cầu để theo học chương trình tiếng Anh pháp lý ngay từ học kỳ đầu tiên. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định mức độ phù hợp của giáo trình 15 bài học đối với năng lực sinh viên, đánh giá sự chấp nhận của giảng viên, phân tích các rào cản sư phạm và đề xuất giải pháp cải tiến chương trình đào tạo. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 3 phần của giáo trình trong khung thời gian 3 học kỳ từ năm học 2007-2008 đến 2008-2009. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ cho hơn 3.000 sinh viên luật tại khu vực phía Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cốt lõi về phân tích nhu cầu (Needs Analysis) trong giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành (ESP) của Hutchinson & Waters (1987), kết hợp mô hình phân loại nhu cầu chủ quan và khách quan của Nunan (1988, 1999) cùng nguyên lý phát triển chương trình của Richards (2001). Về mặt bản chất ngôn ngữ học, công trình dựa trên lý thuyết của David Crystal (2004) về phong cách tiếng Anh pháp lý (Legal English). Khung lý thuyết này làm rõ 5 đặc trưng ngôn ngữ then chốt: việc sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành chuẩn xác, sự phổ biến của từ ngữ gốc Latin và tiếng Pháp (như de jure, de facto), việc dùng từ ngữ thông thường trong ngữ cảnh pháp lý đặc thù (như consideration, construction), sự xuất hiện của các đại từ chỉ định cổ (pronominal adverbs như hereof, thereof), và cấu trúc kết hợp từ ngữ đẳng nghĩa (doublets và triplets như null and void). Về phương diện thiết kế chương trình, tác giả áp dụng mô hình giáo trình tích hợp (Integrated Syllabus) dung hòa giữa nội dung chủ điểm (Topical-based) và rèn luyện kỹ năng (Skills-based), kết hợp hài hòa giữa Phương pháp Giảng dạy Giao tiếp (CLT) và Phương pháp Ngữ pháp - Dịch (Grammar Translation Method) theo định hướng của Breen & Candlin (1980) và Trần Thị Mỹ Dung (1999).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai với cỡ mẫu bao gồm 9 giảng viên tiếng Anh thuộc Bộ môn Ngoại ngữ (độ tuổi từ 24 đến 53, thâm niên công tác từ 1 đến 28 năm), 10 cán bộ quản lý kiêm giảng viên chuyên ngành Luật, cùng hơn 300 sinh viên Khóa 31 và Khóa 32 đang trực tiếp học tập giáo trình tại trường. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) kết hợp chọn mẫu thuận tiện nhằm thu thập dữ liệu từ đúng những đối tượng thụ hưởng và thực thi chương trình trong suốt 3 học kỳ liên tiếp.

Quy trình thu thập dữ liệu sử dụng 4 công cụ chính: quan sát trực tiếp 12 buổi học trên lớp, khảo sát bằng bảng hỏi bán cấu trúc đối với toàn bộ giảng viên và sinh viên, phỏng vấn sâu cá nhân đối với 15 cán bộ và nhà tuyển dụng, cùng việc phân tích đối sánh kết quả bài thi phân loại đầu vào (placement test) và bài thi kết thúc học phần (achievement test). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hỗn hợp định tính và định lượng (mixed methods) là nhằm thực hiện đối chiếu chéo (triangulation) nguồn dữ liệu, bảo đảm tính khách quan, đo lường chính xác mức độ tương thích giữa mục tiêu thiết kế giáo trình với kết quả tiếp thu thực tế của người học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giáo trình "Introduction to Law in English" nhận được mức độ chấp nhận cao về tính hệ thống khi có 85% giảng viên và sinh viên đánh giá cấu trúc 15 bài học được sắp xếp logic từ các chủ đề quen thuộc (Quyền trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình) đến các lĩnh vực pháp luật chuyên sâu (Luật Bồi thường thiệt hại, Luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ).

Thứ hai, mức độ khó của từ vựng và cấu trúc câu là trở ngại lớn nhất khi có tới 78% sinh viên khảo sát gặp áp lực ghi nhớ hơn 500 thuật ngữ pháp lý và các dạng đảo ngữ phức tạp, điều này tương ứng với thực tế chỉ có 21% sinh viên Khóa 31 và 22% sinh viên Khóa 32 đạt chuẩn tiếng Anh đầu vào.

Thứ ba, hoạt động kiểm tra đánh giá bộc lộ sự thiếu cân bằng nghiêm trọng: bài thi kết thúc học phần chiếm tới 80% tổng điểm và được tổ chức hoàn toàn qua 50 câu hỏi trắc nghiệm máy tính (gồm 10 câu từ vựng - ngữ pháp, 15 câu đọc hiểu, 10 câu viết và các câu hỏi tổng hợp), trong khi kỹ năng nghe và nói thực hành chiếm 0% tỷ trọng trong kỳ thi cuối kỳ dù giáo trình có kèm 2 đĩa CD audio ghi âm bởi người bản ngữ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa hiệu quả qua biểu đồ cột thể hiện mức độ hài lòng đối với 4 kỹ năng ngôn ngữ: kỹ năng Đọc hiểu đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất với 82%, trong khi kỹ năng Viết và Nghe chỉ đạt lần lượt 48% và 52%. Đồng thời, một bảng ma trận phân bổ thời lượng 150 tiết (45 tiết cho Học kỳ 1, 45 tiết cho Học kỳ 2 và 60 tiết cho Học kỳ 3) phản ánh rõ áp lực dồn nén nội dung khi khung thời gian đào tạo đại học bị rút ngắn từ 4,5 năm xuống 4 năm theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nguyên nhân chính của các hạn chế bắt nguồn từ việc nền tảng Tiếng Anh tổng quát (GE) của sinh viên chưa đồng đều, phần lớn chỉ ở trình độ Sơ cấp (Elementary). Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công trình của Dương Thị Thùy Uyên (2004) trong ngành Quản trị kinh doanh và Cao Thị Hoàng Yến (2005) trong ngành Tài chính - Kế toán về rào cản thuật ngữ, nhưng tiếng Anh pháp lý có tính chất trừu tượng và cấu trúc phức tạp hơn nhiều. Do đó, việc duy trì phương pháp Ngữ pháp - Dịch song song với Phương pháp Giao tiếp (CLT) là tất yếu để hỗ trợ sinh viên hiểu đúng bản chất các khái niệm luật học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ban biên soạn cần tiến hành tái cấu trúc và xuất bản sách bài tập (Workbook) riêng biệt trong vòng 6 tháng tới, tách rời phần bài tập củng cố và nhiệm vụ tự học nhằm nâng cao ít nhất 30% thời lượng tự nghiên cứu độc lập của sinh viên ngoài giờ lên lớp.

Thứ hai, Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo cần điều chỉnh cơ chế kiểm tra đánh giá trong năm học mới: giảm tỷ trọng bài thi cuối kỳ từ 80% xuống 60%, nâng tỷ trọng đánh giá quá trình từ 20% lên 40%, đồng thời bắt buộc đưa phần thi nghe hiểu và vấn đáp tình huống pháp lý chiếm tối thiểu 25% tổng điểm học phần.

Thứ ba, Bộ môn Ngoại ngữ cần triển khai chương trình bồi dưỡng chuyên môn liên ngành định kỳ 12 tháng một lần, kết hợp 9 giảng viên tiếng Anh với các tiến sĩ luật học để chuẩn hóa phương pháp giải thích thuật ngữ và kỹ năng biên soạn hợp đồng thương mại quốc tế.

Thứ tư, Trung tâm Khảo thí cần thiết lập chuẩn phân loại đầu vào chặt chẽ, yêu cầu 100% sinh viên chưa đạt mức điểm chuẩn 21-22% phải tham gia khóa bổ trợ 60 tiết Tiếng Anh tổng quát trước khi chính thức tiếp cận 150 tiết học phần tiếng Anh pháp lý chuyên sâu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giảng viên và các nhà biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành (ESP/ESPL) tại các trường đại học có thể ứng dụng khung phân tích nhu cầu và mô hình giáo trình tích hợp 15 chủ điểm để phát triển tài liệu giảng dạy chuyên sâu.

Thứ hai, cán bộ quản lý đào tạo và ban chủ nhiệm khoa tại các cơ sở giáo dục khối ngành Luật và Khoa học Xã hội có thể sử dụng các phát hiện thực nghiệm để tối ưu hóa thời lượng 150 tiết học và đổi mới ngân hàng đề thi 50 câu trắc nghiệm.

Thứ ba, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp giảng dạy tiếng Anh (TESOL/ELT) tìm thấy trong luận văn một nghiên cứu tình huống điển hình về phương pháp hỗn hợp và giải pháp dung hòa giữa CLT với Ngữ pháp - Dịch.

Thứ tư, sinh viên ngành luật, luật sư tập sự và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp có thể sử dụng các bảng phân loại thuật ngữ và bài tập đọc hiểu trong tài liệu để tự nâng cao năng lực xử lý văn bản pháp lý quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Giáo trình "Introduction to Law in English" có cấu trúc và phân bổ thời lượng như thế nào? Giáo trình gồm 15 bài học in trong 3 tập với dung lượng hơn 300 trang, được giảng dạy trong 150 tiết xuyên suốt 3 học kỳ (Học kỳ 1: 45 tiết, Học kỳ 2: 45 tiết, Học kỳ 3: 60 tiết). Nội dung tích hợp đầy đủ 4 kỹ năng ngôn ngữ cùng hệ thống từ vựng, ngữ pháp và phát âm chuyên ngành.

Vì sao sinh viên Trường Đại học Luật TP.HCM gặp nhiều trở ngại khi học tiếng Anh pháp lý? Kết quả khảo sát chỉ ra chỉ có khoảng 21% sinh viên Khóa 31 và 22% sinh viên Khóa 32 vượt qua bài thi phân loại đầu vào, đa số người học ở trình độ sơ cấp. Do đó, việc phải tiếp thu hơn 500 thuật ngữ trừu tượng và các cấu trúc câu phức tạp tạo ra rào cản nhận thức lớn cho 78% sinh viên.

Phương thức kiểm tra đánh giá học phần hiện nay được thực hiện ra sao? Hệ thống đánh giá gồm điểm kiểm tra bộ phận chiếm 20% và điểm thi kết thúc học phần chiếm 80%. Bài thi cuối kỳ gồm 50 câu trắc nghiệm trên máy tính từ ngân hàng 60 câu hỏi mỗi kỳ, tập trung vào từ vựng, ngữ pháp, đọc hiểu và viết, hoàn toàn chưa đánh giá kỹ năng nghe và nói.

Phương pháp giảng dạy nào đang được ứng dụng hiệu quả trong chương trình? Luận văn khẳng định sự kết hợp giữa Phương pháp Dạy học Giao tiếp (CLT) và Phương pháp Ngữ pháp - Dịch truyền thống là tối ưu. CLT phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tranh biện, trong khi phương pháp dịch giúp sinh viên nắm vững cấu trúc các điều khoản luật và thuật ngữ chuyên ngành phức tạp.

Điểm hạn chế lớn nhất của bộ giáo trình được luận văn chỉ ra là gì? Hạn chế cốt lõi là chưa có sách bài tập riêng, phần hướng dẫn viết 9 bài bị tách rời khỏi chủ đề chính, và thời lượng 150 tiết bị quá tải sau khi chương trình cử nhân rút ngắn xuống 4 năm, khiến tỷ lệ hài lòng với kỹ năng nghe và viết chỉ đạt dưới 55%.

Kết luận

  • Luận văn ghi nhận dấu mốc 15 năm (1994-2009) cải cách liên tục tài liệu tiếng Anh chuyên ngành Luật tại Trường Đại học Luật TP.HCM.
  • Đánh giá khách quan tính khoa học của bộ giáo trình "Introduction to Law in English" gồm 150 tiết học và 15 chủ điểm pháp lý toàn diện.
  • Làm rõ rào cản ngôn ngữ của 78% sinh viên xuất phát từ tỷ lệ đạt chuẩn đầu vào thấp ở mức 21-22%.
  • Chỉ ra bất cập trong bài thi trắc nghiệm máy tính 50 câu chiếm 80% tổng điểm khi chưa tích hợp đánh giá kỹ năng nghe và nói.
  • Khẳng định mô hình giáo trình tích hợp kết hợp giữa CLT và Ngữ pháp - Dịch là định hướng sư phạm phù hợp nhất cho 9 giảng viên của bộ môn.

Lộ trình thực hiện các giải pháp nâng cấp giáo trình và quy chế khảo thí cần được hoàn thành trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới. Các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và người học hãy khai thác tối đa các phát hiện khoa học từ luận văn này để nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ pháp lý, đáp ứng yêu cầu hội nhập toàn cầu.