CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về vệ sinh tay thường quy 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Nhiễm khuẩn bệnh viện: Nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế (sau đây gọi tắt là nhiễm khuẩn bệnh viện) là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. (7) Vệ sinh tay: Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (7, 8) Vệ sinh tay thường quy là quy trình được chỉ định thường quy khi không có chỉ định rửa tay phẫu thuật. Mục đích để loại bỏ chất dơ và vi sinh vật vãng lai trên tay của nhân viên y tế.
(7) Hóa chất vệ sinh tay: Mọi hóa chất VSTTQ sử dụng trong y tế phải được BYT cấp phép sử dụng. Các loại hóa chất VSTTQ thường được sử dụng hiện nay bao gồm xà phòng thường, xà phòng khử khuẩn, dung dịch VSTTQ chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn). Bình cấp hóa chất VSTTQ cần kín, có bơm định lượng tự động hoặc bằng cần gạt hoạt động tốt, có nhãn ghi rõ loại dung dịch VSTTQ và còn hạn sử dụng, được gắn tại các vị trí thuận lợi cho người sử dụng. Tại mỗi bồn rửa tay thường quy, ngoài xà phòng thường rửa tay cần trang bị đồng bộ các phương tiện khác gồm quy trình rửa tay, khăn lau tay sử dụng một lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng (nếu là khăn sợi bông sử dụng lại) hoặc thùng chất thải thông thường (nếu sử dụng khăn giấy dùng một lần).
(7) Cơ hội VSTTQ: Thời điểm cần VSTTQ trong các hoạt động chăm sóc, điều trị để cắt đứt lan truyền mầm bệnh qua bàn tay. (7) Mọi đối tượng trực tiếp chăm sóc người bệnh cần rửa tay bằng nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn vào những thời điểm sau: 5 + Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh. + Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn. + Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể.
+ Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh. + Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh. - Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần VSTTQ: + Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh. + Trước khi mang găng và sau khi tháo găng.
+ Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh. Vùng kề cận người bệnh: là vùng xung quanh người bệnh như giường bệnh, bàn, ga trải giường, các dụng cụ thiết bị trực tiếp phục vụ người bệnh. Vùng kề cận người bệnh thường ô nhiễm các vi sinh vật (VSV) có từ người bệnh. Tuân thủ được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt là giữ và làm đúng quy định.
Trong nghiên cứu này là: tuân thủ VSTTQ là kiến thức đúng và thực hành đúng quy định VSTTQ với nước, xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn/ cồn tại các thời điểm cần VSTTQ và thực hiện đúng đủ 6 bước của quy trình VSTTQ phải đạt từ 20-30 giây theo quyết định 3916/QĐ-BYT theo 6 bước (Hình ảnh minh họa các bước VSTTQ được trình bày tại Phụ lục 1). (7) Khi thực hiện quy trình VSTTQ cần lưu ý một số điểm sau: + Lựa chọn đúng phương pháp VST: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải VST bằng nước và xà phòng thường. Chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các người bệnh. + Lấy đủ 3ml -5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VST.
+ Tuân thủ đúng kỹ thuật VST. Chà tay cùng hóa chất VST theo đúng trình tự từ bước 1 tới bước 6, mỗi bước chà 5 lần để bảo đảm hóa chất tiếp xúc đều trên toàn bộ bề mặt bàn tay. Trường hợp chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn, nếu chà đủ 6 6 bước mà tay chưa khô thì lặp lại các bước cho tới khi tay khô. Trường hợp VST bằng nước và xà phòng thì trước khi lấy dung dịch xà phòng cần mở vòi nước và làm ướt bàn tay; sau khi kết thúc 6 bước chà tay cần rửa lại tay dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất trên tay, lau khô tay bằng khăn sạch, khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng, thải bỏ khăn vào thùng thu gom khăn.
+ Tuân thủ đúng thời gian VST: Thời gian chà tay với hóa chất VST theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây. + Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn. + Tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VST: Sử dụng nước sạch để rửa tay, sử dụng khăn sợi bông/khăn giấy sạch dùng 1 lần để lau khô tay, sử dụng khăn đã dùng lau khô tay để đóng vòi nước. Không dùng một khăn lau tay chung cho nhiều lần rửa tay.
+ Không sử dụng máy sấy tay để làm khô tay. Xem xét lựa chọn loại găng tay không có bột talc để thuận lợi cho việc khử khuẩn tay bằng dung dịch VST chứa cồn.2 Tầm quan trọng của việc vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế Trong môi trường bệnh viện, mọi nơi bàn tay đụng chạm vào đều có vi khuẩn trên đó. Các tác nhân NKBV không chỉ có ở các vết thương nhiễm khuẩn, ở chất thải và dịch tiết của người bệnh mà thường xuyên có trên da lành của người bệnh. Trong quá trình chăm sóc người bệnh, bàn tay NVYT thường xuyên bị ô nhiễm vi sinh vật có ở trên da bệnh nhân cũng như ở bề mặt môi trường bệnh viện và thời gian thao tác càng dài thì mức độ ô nhiễm bàn tay càng lớn.
Không VSTTQ trước khi chăm sóc người bệnh là nguyên nhân quan trọng làm lan truyền NKBV. Nhiều nghiên cứu tại những khu vực lâm sàng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả phòng ngừa NKBV của thực hành VSTTQ thường quy đã cho thấy tỷ lệ NKBV giảm khi cải thiện tỷ lệ tuân thủ VSTTQ ở NVYT, đặc biệt ở những khu vực có nhiều thủ thuật xâm nhập như cấp cứu, hồi sức tích cực, ngoại khoa, nhi khoa. Nhìn chung, thực hiện tốt VSTTQ có thể làm giảm từ 30% - 50% NKBV. (7) 7 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chỉ với một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn.
Bàn tay cũng chính là công cụ phổ biến nhất khiến virus lây lan từ người nay sang người kia. Do đó, ngăn chặn virus xâm nhập vào cơ thể bằng việc rửa tay thường xuyên và sạch sẽ là hết sức quan trọng (12). Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới và Việt Nam 1.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới Nghiên cứu cắt ngang tại hai bệnh viện của Iran năm 2015 sử dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức VSTTQ của WHO cho thấy: chỉ có 10,6% các điều dưỡng/trợ lý điều dưỡng có kiến thức tốt, mặc dù tất cả các NVYT đều có những kiến thức nhất định về VSTTQ (13). Tại bệnh viện đại học Shiraz, Iran khảo sát trước can thiệp ban đầu chỉ ra tỉ lệ NVYT tuân thủ còn thấp là 29,8% tại 14 khoa phòng lâm sàng (14).
Nghiên cứu của Jawad Ahmed và cộng sự (2020) trên 304 NVYT tại cơ sở thực địa Karachi, Pakistan cho thấy tỉ lệ sử dụng chất khử trùng để VST trước và sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân chỉ ở mức 12,3% trong khi có tới 62,73% người tham gia biết về các hướng dẫn của WHO về VSTTQ và 65,56% nhận thức được các bệnh nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện. Tuy nhiên, gần một nửa số người tham gia (45,75%) chưa bao giờ tham gia một bài giảng chính thức về chủ đề này và hơn một nửa (62,26%) số người tham gia không được biết về các biến chứng của nhiễm trùng bệnh viện (15). Thực trạng tuân thủ cơ hội vệ sinh tay thường quy Một nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện Jugal, Ethiopia tháng 3 năm 2020 lại cho thấy tỉ lệ thực hành VSTTQ ở NVYT lại ở mức thấp khi chỉ có 6% NVYT sử dụng chất sát khuẩn có cồn để VSTTQ, 34,3% chỉ sử dụng nước và 59,5% sử dụng xà phòng để VSTTQ. Chỉ có 16,3% thực hành đúng về VSTTQ và 66,8% sử dụng khăn lau tay chung để làm khô tay sau khi VSTTQ (16).
8 Cuộc khảo sát nội bộ diễn ra tại một bệnh viện chăm sóc đại học ở Phần Lan từ năm 2013 đến năm 2018 cho thấy mức độ tuân thủ VSTTQ trung bình khoảng 76,4%. Tuy nhiên vẫn có khoảng 11,5% lần VSTTQ không được thực hiện khi có cơ hội. (17) Tương tự với khảo sát ở Tây nam Nigeria năm 2020 trên 368 bác sĩ và điều dưỡng đã chỉ ra rằng có tới 72,3% đối tượng ý thức được tầm quan trọng của VSTTQ, tỉ lệ VSTTQ trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân lần lượt là 44,6% với điều dưỡng và 56,2% với bác sĩ, trong đó có 52,4% số điều dưỡng đã được tập huấn về VSTTQ trong 3 năm vừa qua. (18) Thêm vào đó, với sự ảnh hưởng của dịch bệnh COVID 19, các biện pháp phòng ngừa hiệu quả như VSTTQ được chú trọng hơn.
Theo nghiên cứu của M.Zhang và cộng sự tháng 2 năm 2020 trên 10 bệnh viện tại Hà Nam, Trung Quốc, có 89,7% tuân thủ các thực hành đúng về COVID-19 về VSTTQ (19). Bên cạnh đó, nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện Jugal, Ethiopia tháng 3 năm 2020 lại cho thấy tỉ lệ thực hành VSTTQ ở NVYT lại ở mức thấp khi chỉ có 6% NVYT sử dụng chất sát khuẩn có cồn để VSTTQ, 34,3% chỉ sử dụng nước và 59,5% sử dụng xà phòng để VSTTQ. Chỉ có 16,3% thực hành đúng về VSTTQ và 66,8% sử dụng khăn lau tay chung để làm khô tay sau khi VSTTQ (16). Điều này cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các khu vực việc tuân thủ VSTTQ của các NVYT.
Thực trạng tuân thủ các bước vệ sinh tay thường quy Có thể thấy các hướng dẫn VSTTQ dành cho NVYT đã được khuyến cáo và thực hiện từ lâu, tuy nhiên việc tuân thủ VSTTQ của NVYT vẫn còn nhiều hạn chế.