Chương 1. Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu. Đặc điểm hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn và kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Phú Thọ. Mức độ tổn thương và giải pháp phát triển hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Phú Thọ.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƢƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Với cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, các nghiên cứu tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và khả năng tổn thương do BĐKH trên thế giới đã và đang có những đóng góp đáng kể trong quy hoạch,ứng phó khẩn cấp đối với các tai biến, thiếu hụt lương thực, nạn đói, phát triển kinh tế, làm cơ sở cho đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch cơ sở hạ tầng, hình thành các chương trình ưu tiên và bảo tồn tài nguyên – môi trường biển, đô thị, hoạch định chính sách, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như thiết lập khung cho quản lý tổng hợp đới bờ tiếp cận gần với mục tiêu phát triển bền vững.
Trong đó, một số nghiên cứu đã mang lại những thành tựu đáng kể. Trong công trình nghiên cứu của Nass (2003) [34] về đánh giá TDBTT và thích ứng với BĐKH ở Nauy, TDBTT được nghiên cứu và đánh giá dựa trên cách tiếp cận đa chiều. Đánh giá TDBTT được coi là một quá trình chứ không đơn thuần là một kết quả thực hiện. Nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc đưa ra các kịch bản khí hậu, liên hệ với các điều kiện địa phương vào quá trình xác định mức độ tổn thương.
Năm 2003, Cutter [30] đã xây dựng được bộ chỉ số đánh giá TDBTT tổn thương xã hội (SoVI - Social Vulnerability Index) cho một vùng cụ thể. Bộ chỉ số SoVI gồm 42 tham số kinh tế xã hội, nhân khẩu và môi trường để xác định mức khả năng phục hồi sau tai biến của các khu vực ở Hoa Kỳ. Chất lượng cuộc sống của con người (loại và kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng,…); môi trường tác động cũng rất quan trọng để hiểu rõ tổn thương xã hội, đặc biệt là những đặc điểm ảnh hưởng đến khả năng thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về người do tai biến thiên nhiên. Chính vì vậy, bộ chỉ tiêu được xây dựng có vai trò quan trọng trong kiểm soát những biến đổi trong tổn thương xã hội về cả khía cạnh không gian và thời gian.
Trong nghiên cứu của Romieu (2010) [40], TDBTT hệ thống xã hội - môi trường tại khu vực Bắc Kinh (Trung Quốc) đã đánh giá bằng xây dựng các chỉ số 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua việc định lượng các yếu tố tai biến và khả năng phục hồi của hệ thống xã hội, sinh thái. Kết quả nghiên cứu có ứng dụng quan trọng cho phát triển bền vững và bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Brunckhorst và nnk (2011) [28] đã thực hiện đánh giá tổn thương do tác động của BĐKH ở bang New South Wales, Australia trên cơ sở sử dụng một số chỉ thị tổn thương xã hội (chỉ thị bất lợi KT-XH, chỉ thị nguồn lực kinh tế và chỉ thị giáo dục và nghề nghiệp) để xây dựng chỉ số tổn thương tổng hợp của cộng đồng và khả năng thích ứng của họ. Tổn thương được phân tích theo tổn thương ngắn hạn (bão, ngập lụt) và tổn thương dài hạn (bất lợi KT-XH, tính ổn định dân cư).
Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương SOPAC (2014) [43] đề xuất bộ chỉ số gồm 50 chỉ số về tổn thương môi trường (EVI – Environmental Vulnerability Index). Mỗi yếu tố gây tổn thương cho môi trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương. Chỉ số tổn thương môi trường là cơ sở để đánh giá phúc lợi xã hội và được thiết kế để đánh giá cả TDBTT kinh tế - xã hội, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu rộng vào các quá trình tiêu cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia. Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển thuộc nam Thái Bình Dương.
Đồng thời là dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại khu vực, trong đó có Việt Nam. Lakhdar và nnk (2015) [32] đưa ra quan điểm cho rằng đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH là một nguyên tắc của sự phát triển bền vững. Với nghiên cứu điển hình ở thị trấn Ghardaia, Algeria, nghiên cứu này đã thử một cách tiếp cận hoàn chỉnh hơn, bao gồm gần như toàn bộ những thách thức hiện nay ở khu vực này. Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất một phương pháp đánh giá và ngăn ngừa nguy cơ do BĐKH.
Chang và nnk (2015) [29] đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH ở thành thị bằng một cách tiếp cận mới. Phương pháp đánh giá dùng các biến thành phần gồm độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đô thị tại Đài Loan. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng bản đồ mức độ tổn thương từ đó cho thấy các vùng dễ bị tổn thương do BĐKH. Đồng thời nghiên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu đã chỉ ra rằng những vùng có độ phơi nhiễm cao chưa chắc đã dễ bị tổn thương mà chủ yếu phụ thuộc vào khả năng thích ứng của vùng đó.
Tapia và nnk (2017) [45] thực hiện nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương của các thành phố châu Âu do biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này trình bày đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên chỉ số cho 571 thành phố ở châu Âu. Kết quả cho thấy những thách thức chính mà các thành phố châu Âu phải đối mặt để đối phó tốt hơn với những tác động của biến đổi khí hậu. Kết quả này là một bước quan trọng để thúc đẩy sự hiểu biết về rủi ro của BĐKH đối với đô thị từ đó xây dựng các chính sách có hiệu quả của châu Âu đối với thích ứng đô thị trong bối cảnh BĐKH.
Trong phần lớn các kết quả nghiên cứu kể trên, phương pháp viễn thám và GIS có vai trò rất quan trọng và đã được các nhà nghiên cứu TDBTT áp dụng để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá TDBTT, phân tích không gian để thành lập các loại bản đồ mức độ tổn thương. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Các công trình nghiên cứu TDBTT và đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau của hệ thống tự nhiên – xã hội, cộng đồng dân cư và các tài nguyên ven biển trên quy mô nghiên cứu từ vùng/khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam. Nổi bật là các công trình nghiên cứu TDBTT ở Việt Nam được Mai Trọng Nhuận và cộng sự triển khai từ những năm 2000 đến nay với các công trình nghiên cứu điển hình với các kết quả quan trọng: ứng dụng trong giảm thiểu thiệt hại tai biến, thích ứng với BĐKH, nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng chịu tổn thương, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển định hướng cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng tài nguyên bền vững. Một số công trình và kết quả nghiên cứu điển hình như sau: Trong giai đoạn 2001-2015, các nghiên cứu TDBTT của hệ thống tự nhiên – xã hội đới ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ được nhóm tác giả đề cập trong các đề tài và chuyên đề địa chất môi trường và địa chất tai biến.
Cụ thể trong đề tài 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Nghiên cứu, đánh giá TDBTT của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững” được thực hiện trong giai đoạn 2001-2002. Trong công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xây dựng được phương pháp luận, phương pháp và quy trình đánh giá TDBTT áp dụng cho đới duyên hải. Qua đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản đồ TDBTT của tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ. Nhận định, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới TDBTT, đánh giá hiện trạng TDBTT và phân vùng TDBTT đới duyên hải Nam Trung Bộ dựa trên các bản đồ phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và phân vùng mật độ các đối tượng bị tổn thương (mật độ tài nguyên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng.
Kết quả đã thành lập được bản đồ phân vùng TDBTT các vùng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ theo 4 mức từ thấp đến cao. Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại tai biến, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung. Cùng với đó, trong khía cạnh BĐKH toàn cầu, Mai Trọng Nhuận cùng cộng sự đã có những nghiên cứu TDBTT do BĐKH (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - Lăng Cô,…). Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường (với các mô hình phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản sạch,…), giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên – môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do BĐKH và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.
Kết quả các nghiên cứu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng chính sách, chiến lược thích ứng với BĐKH, giảm thiểu tác động do BĐKH đến tài nguyên – môi trường đới ven biển và là cơ sở khoa học cho đánh giá môi trường chiến lược [18]. Từ năm 2007 đến nay, cũng đã có nhiều dự án hợp tác giữa Việt Nam và quốc tế cũng đã có những tiếp cận tổng hợp đến việc nghiên cứu TDBTT do tác động của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.