Mở đầu. Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu về lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu. Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên cứu. Kết quả lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái vùng biển đảo Phú Quốc dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LƯỢNG GIÁ TỔN THẤT KINH TẾ DO SUY THOÁI HỆ SINH THÁI DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan Biến đổi khí hậu: Là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan [8].
Nước biển dâng: Là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,. Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác [8]. Kịch bản biến đổi khí hậu: Là sự khác biệt giữa kịch bản khí hậu và khí hậu hiện tại. Do kịch bản biến đổi khí hậu xác định từ kịch bản khí hậu, nó bao hàm các giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng [8].
Hệ sinh thái: Là một hệ thống mở hoàn chỉnh gồm các thành phần sống (quần xã) và các thành phần vô sinh như không khí, nước và đất khoáng (sinh cảnh). Suy thoái hệ sinh thái: Là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần HST, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của HST. Việc lượng hóa sự thay đổi này sẽ là những cơ sở quan trọng để xác định mức độ suy thoái các HST [14]. Tổn thất – mất mát (Loss): Tác động không thể phục hồi.
Tổn thất kinh tế là những tổn thất về tài nguyên, hàng hóa, dịch vụ mà có thể được trao đổi, mua bán trên thị trường bao gồm thu nhập (từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ) và tài sản (tự nhiên và nhân tạo). Tổn thất kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra được hiểu là những mất mát về chất lượng/số lượng tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ môi trường không thể phục hồi sau 6 khi đã thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng. Các tổn thất có thể là hậu quả của các hiện tượng thời tiết cực đoan nhất thời như bão, lũ, hạn hán, …; hoặc các quá trình diễn biến chậm, qua thời gian (slow-onset event) như nhiệt độ tăng, nước biển dâng, xâm nhập mặn, axit hóa đại dương, hoang mạc hóa… Tổn thất xảy ra đối với con người (như thiệt hại về sức khỏe, sinh kế,…) và các hệ thống tự nhiên (như suy giảm đa dạng sinh học, hệ sinh thái…). Tổng giá trị kinh tế (TEV) là cơ sở của việc lượng giá các giá trị môi trường và cả tài nguyên thiên nhiên, hoặc TEV là tổng hợp tất cả các dạng giá trị có liên quan đến một tài nguyên, hàng hóa, hay dịch vụ môi trường [58].
Cơ sở khoa học của biến đổi khí hậu 1. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên và cũng có thể do tác động của con người. Nguyên nhân tự nhiên gây nên sự thay đổi của khí hậu trái đất có thể là từ bên ngoài, hoặc do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của hệ thống khí hậu trái đất như: Thay đổi của các tham số quĩ đạo trái đất; Sự biến đổi về phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của trái đất; Hoạt động của núi lửa. BĐKH trong giai đoạn hiện tại là do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức các khí nhà kính vào bầu khí quyển.
Những hoạt động của con người đã tác động lớn đến hệ thống khí hậu, đặc biệt kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750). Theo IPCC, sự gia tăng khí nhà kính kể từ những năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các hoạt động của con người. Hay nói cách khác, nguyên nhân chính của sự nóng lên toàn cầu trong giai đoạn hiện nay bắt nguồn từ sự gia tăng khí nhà kính có nguồn gốc từ hoạt động của con người [7]. Biểu hiện của biến đổi khí hậu Những biểu hiện của BĐKH hiện hữu ngày càng rõ mà chúng ta hoàn toàn có thể cảm nhận rõ hay nhìn thấy như: Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất; Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất; Sự dâng cao mực nước biển do băng tan; Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn 7 tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. Tại Việt Nam, trong giai đoạn 1958-2018, nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng trên phạm vi cả nước với mức tăng 0,89oC, lượng mưa năm có xu hướng tăng nhẹ 2,1%. Số ngày nắng nóng có xu thế tăng trên hầu hết các vùng khí hậu, phổ biến từ 10-40 ngày. Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc.
Số tháng hạn có xu thế tăng ở khu vực phía Bắc, giảm ở Trung Bộ và phía Nam. Số cơn bão mạnh có xu thế tăng nhẹ, mùa bão kết thúc muộn hơn và có nhiều cơn bão đổ bộ vào phía Nam hơn. Mực nước biển ven bờ tại Việt Nam có xu hướng tăng với tốc độ trung bình khoảng 3,6 mm/năm [8]. Kịch bản biến đổi khí hậu Kịch bản BĐKH được xây dựng kịch bản dựa trên cách tiếp cận mới về kịch bản phát thải là kịch bản phát thải chuẩn (Benchmark emissions scenarios) hay đường nồng độ khí nhà kính đại diện (Representative Concentration Pathways - RCP).
Kịch bản RCP chú trọng đến nồng độ khí nhà kính, đưa ra giả định về đích đến, tạo điều kiện cho thế giới có có nhiều lựa chọn trong quá trình phát triển kinh tế, công nghệ, dân số, … Có 4 kịch bản RCP được trình bày trong Bảng 1. Đặc trưng của các kịch bản biến đổi khí hậu Nồng độ Tăng nhiệt độ Đặc điểm Kịch bản Cưỡng bức CO2tđ năm toàn cầu năm đường cưỡng SRES RCP bức xạ 2100 2100 (oC) so bức bức xạ tới tương năm 2100 (ppm) với 1986-2005 năm 2100 đương RCP8.9 Tăng liên tục A1F1 Tăng dần RCP6.0 B2 và ổn định Tăng dần RCP4.4 B1 và ổn định Đạt cực đại 3.5 W/m và giảm tương đương 2 Nguồn: Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam 2016 [7] 8 1. Cơ sở lý luận về đánh giá tổn thất kinh tế liên quan đến biến đổi khí hậu 1. Phân biệt giữa tổn thất và thiệt hại Thuật ngữ “tổn thất và thiệt hại” lần đầu tiên được chính thức trong Kế hoạch hành động Bali năm 2007.
Từ đó có nhiều tác giả cũng như nghiên cứu đưa ra các định nghĩa về TT&TH do BĐKH. Theo Bouwer, tổn thất thiệt hại đơn giản là các mất mát do hiện tượng thời tiết, theo đó không bao gồm TT&TH từ các hiện tượng diễn biến chậm và giới hạn phạm vi tác động trực tiếp [42]. Theo Warner và Zakieldeen (2011), TT&TH là không thể tránh khỏi từ tác động bất lợi của BĐKH và là hậu quả của các giải pháp thích ứng, giảm thiểu không đầy đủ. Verheyen (2012) nhận định “TT&TH là những thiệt hại không thể tránh khỏi nếu chỉ nhờ vào hoạt động giảm thiểu hoặc thích ứng”.
James và cộng sự định nghĩa vào năm 2014 “TT&TH xảy ra khi các nỗ lực giảm thiểu đã bị thất bại trong việc ngăn chặn sự gia tăng liên tục của phát thải khí nhà kính; còn các hoạt động thích ứng hiện tại không đủ để ngăn chặn tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai”. Như vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu TT&TH là tác động của BĐKH mà không ngăn chặn được bởi các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ, làm rõ mối liên hệ giữa thích ứng, giảm nhẹ và các chính sách về tổn thất và thiệt hại. UNFCC không phân biệt giữa “tổn thất” và “thiệt hại” nhưng một số nhà khoa học cũng đã cố gắng phân tách hai khái niệm này. “Tổn thất (Losses)” gắn với sự mất mát không thể phục hồi, ví dụ, tử vong do thiên tai liên quan đến nắng nóng hoặc sự phá hủy vĩnh viễn các rạn san hô, trong khi “Thiệt hại (damage)” được coi là mất mát có thể giảm nhẹ hoặc sửa chữa phục hồi.
Chẳng hạn như thiệt hại đối với các tòa nhà (Boyd và cộng sư 2017). Hug (2013) cũng cho rằng tổn thất là mất mát mãi mãi và không thể khôi phục trở lại, ví dụ về cuộc sống con người, môi trường sống và loài động thực vật. Còn thiệt hại là có thể phục hồi, sửa chữa được như hệ thống đường giao thông, đê điều,. Tổn thất kinh tế do biến đổi khí hậu Theo báo cáo SEREX Việt Nam, “các hiện tượng cực đoan” (thời tiết hay khí hậu) đề cập đến các hiện tượng vật lý ban đầu trong đó nguyên nhân do con người hơn là các nguyên nhân khí hậu khác.
Các hiện tượng cực đoan không phải chỉ hoàn toàn là do BĐKH gây ra vì những hiện tượng đó vẫn luôn có khả năng xảy ra thường xuyên hơn trong một thời gian dài, các mô hình khí hậu chứng minh rằng xác suất cực đoan khí hậu đã bị thay đổi do ảnh hưởng hoạt động của con người (UNDP và IMHEN, 2015). Trên thực tế, các hiện tượng thiên tai, cực đoan (bão, lũ, sạt lở đất, …) đã xảy ra từ rất lâu trên thế giới, trong khi BĐKH do sự phát thải khí nhà kính từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người mới được ghi nhận từ thời kỳ tiền công nghiệp, tức khoảng hơn 200 năm.