Tổng quan luận án

Công trình khoa học được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đào Hương Giang dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bạch Quang Dũng tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Hà Nội, 2023), thuộc chuyên ngành Biến đổi khí hậu, mã số 9440221. Luận án mang tên: "Nghiên cứu lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái vùng biển đảo Phú Quốc dưới tác động của biến đổi khí hậu". Về mặt tiếp cận học thuật, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm giải quyết bài toán lượng giá tài nguyên môi trường trong bối cảnh khí hậu biến đổi.

Về tính cấp thiết, vùng biển đảo Phú Quốc thuộc vùng biển Tây Nam Bộ giữ vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng và sở hữu tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển. Phú Quốc có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đặc trưng gồm: rừng trên đảo, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rạn san hô. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều tai biến thiên nhiên, đặc biệt là biến đổi khí hậu. Sự biến đổi khí hậu làm suy giảm diện tích, độ che phủ cũng như chức năng sinh thái của các hệ sinh thái tiêu biểu, gây ra tổn thất lớn về kinh tế đối với một địa bàn hành chính - kinh tế đặc thù như huyện đảo Phú Quốc. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu đánh giá thiệt hại hệ sinh thái do các hoạt động khai thác, ô nhiễm nhân tạo mà ít gắn kết trực tiếp với các kịch bản biến đổi khí hậu; đồng thời, tại vùng biển đảo Phú Quốc chưa có công trình nào lượng giá toàn diện các tổn thất kinh tế của các hệ sinh thái theo kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật.

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái vùng biển đảo Phú Quốc dưới tác động của biến đổi khí hậu dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu tổn thất kinh tế tại khu vực này.

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Các hệ sinh thái ở vùng biển đảo Phú Quốc đã, đang và sẽ phải đối mặt với những vấn đề, thách thức nào dưới tác động của biến đổi khí hậu?
  2. Làm thế nào để dự báo được mức độ suy thoái các hệ sinh thái và lượng giá được các tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái theo kịch bản biến đổi khí hậu?
  3. Có những giải pháp nào nhằm giảm tổn thất kinh tế do suy thoái các hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu?

Luận án xây dựng hai luận điểm bảo vệ:

  • Luận điểm 1: Tổng giá trị tổn thất kinh tế do suy thoái các hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu ở vùng biển đảo Phú Quốc có thể được lượng giá từ các giá trị tổn thất kinh tế thành phần (giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng) với sự trợ giúp của các phương pháp lượng giá kinh tế có độ tin cậy cao.
  • Luận điểm 2: Có thể căn cứ vào giá trị tổn thất do suy thoái hệ sinh thái vùng biển đảo Phú Quốc dưới tác động của biến đổi khí hậu để có giải pháp phù hợp.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các giá trị tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp (khai thác thủy sản, du lịch); giá trị sử dụng gián tiếp (phòng hộ, hấp thụ CO2, cung cấp môi trường sống và nguồn giống thủy sản); và giá trị phi sử dụng. Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn tại vùng đảo và vùng biển ven đảo Phú Quốc. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện từ năm 2018 và dự báo kéo dài đến năm 2050. Phạm vi học thuật tập trung vào lý luận lượng giá tổn thất kinh tế dựa trên khung lý thuyết tổng giá trị kinh tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu quốc tế cho thấy mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và suy thoái hệ sinh thái đã được phân tích qua các công trình của Dyer (1995), Amthor (1995), Short (1996), Gilman (2007), Inkyin và Su (2014). Các nghiên cứu này khẳng định biến đổi khí hậu là nguyên nhân trọng yếu dẫn tới suy thoái tài nguyên sinh thái, song đa số chỉ phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng ở mức độ tổng quát, chưa lượng hóa được mức độ suy thoái cụ thể theo từng kịch bản biến đổi khí hậu. Về phương diện lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường, các cơ sở lý thuyết ban đầu về mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế và hệ sinh thái được đặt nền móng bởi Gordon (1954), Barbier (1994) và Tietenbery (2003). Các nghiên cứu này đã thiết lập khuôn khổ phân chia tổng giá trị kinh tế thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng, tạo tiền đề phương pháp luận cho việc hạch toán tổn thất tài nguyên trên thế giới.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về suy thoái hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu đã được thực hiện bởi Nguyễn Huy Yết (2010), Phạm Anh Cường (2011), Nguyễn Đại An (2015), Phạm Văn Thanh (2015). Các công trình này đã tổng hợp được phương pháp đánh giá và bước đầu dự báo suy thoái hệ sinh thái, nhưng hạn chế là chưa cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Trong lĩnh vực lượng giá tổn thất kinh tế hệ sinh thái, các tác giả như Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường (2011), Trần Đình Lân (2015), Nguyễn Ngọc Thanh (2015), Trần Thu Hà (2020) đã vận dụng linh hoạt các phương pháp kinh tế học để quy đổi giá trị thiệt hại ra tiền đồng Việt Nam. Dù vậy, các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá thiệt hại do hoạt động nhân sinh gây ô nhiễm cục bộ, chưa gắn liền với các kịch bản diễn biến khí hậu dài hạn, và đặc biệt chưa có công trình chuyên biệt nào giải quyết bài toán này trên địa bàn biển đảo Phú Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định và tập trung giải quyết là: xây dựng quy trình tích hợp giữa phương pháp dự báo suy thoái diện tích hệ sinh thái theo kịch bản biến đổi khí hậu với các phương pháp lượng giá kinh tế môi trường đa thành phần; lượng hóa đầy đủ các dòng giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng cho bốn hệ sinh thái chủ lực (rừng trên đảo, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô) tại Phú Quốc đến mốc thời gian 2050 theo kịch bản phát thải nồng độ đại diện (RCP4.5 và RCP8.5).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở khoa học về biến đổi khí hậu và khung lý thuyết đánh giá tổn thất kinh tế môi trường:

  • Cơ sở khoa học biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu xuất phát từ các quá trình tự nhiên (tham số quỹ đạo Trái Đất, phát xạ mặt trời, hoạt động núi lửa) và hoạt động phát thải khí nhà kính của con người. Tại Việt Nam, số liệu giai đoạn 1958–2018 cho thấy nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng 0,89°C, lượng mưa năm tăng nhẹ 2,1%, số ngày nắng nóng gia tăng, số ngày rét đậm rét hại ở phía Bắc giảm, bão mạnh tăng nhẹ và mực nước biển dâng ven bờ với tốc độ khoảng 3,6 mm/năm. Kịch bản biến đổi khí hậu áp dụng cách tiếp cận đường nồng độ khí nhà kính đại diện (RCP).
  • Phân biệt tổn thất và thiệt hại: Tiếp thu phân định học thuật từ Boyd và cộng sự (2017), "tổn thất" (loss) gắn liền với những mất mát vĩnh viễn, không thể phục hồi (như việc rạn san hô bị phá hủy hoàn toàn), trong khi "thiệt hại" (damage) là những mất mát có khả năng sửa chữa, phục hồi hoặc giảm nhẹ (như công trình hạ tầng bị hư hại). Luận án định nghĩa tổn thất kinh tế do biến đổi khí hậu là các mất mát về số lượng hoặc chất lượng tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ môi trường không thể phục hồi sau khi đã áp dụng các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ.
  • Khung phân tích Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV): Áp dụng công thức cấu trúc từ Gordon (1954), Barbier (1994), Tietenbery (2003): $$\text{TEV} = \text{UV} + \text{NUV} = [(\text{DUV} + \text{IUV} + \text{OV}) + (\text{EV} + \text{BV})]$$ Trong đó: UV là giá trị sử dụng; NUV là giá trị phi sử dụng; DUV là giá trị sử dụng trực tiếp; IUV là giá trị sử dụng gián tiếp; OV là giá trị quyền chọn; EV là giá trị tồn tại; BV là giá trị để lại.

Luận án triển khai 6 hướng tiếp cận chính: tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử - viễn cảnh, tiếp cận dựa vào thị trường, tiếp cận tổng hợp kết hợp định tính và định lượng, tiếp cận dựa theo tổng giá trị kinh tế và tổng giá trị thiệt hại, và tiếp cận thực tiễn địa bàn.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu hiện trạng, quy hoạch và quản lý được thu thập từ Sở Tài nguyên và Môi trường Kiên Giang, Ban quản lý Vườn quốc gia Phú Quốc, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc, Phòng Kinh tế Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc và các đề tài khoa học liên quan.
  2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát điều tra hành vi của khách du lịch nội địa và quốc tế khi hệ sinh thái suy thoái, đồng thời khảo sát mức sẵn lòng chi trả (WTP) của các hộ dân trên đảo.
  3. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia để xác định các nguyên nhân gây suy thoái hệ sinh thái ở hiện tại và tương lai, xác định tỷ trọng tác động của biến đổi khí hậu và lựa chọn kịch bản khí hậu phù hợp.
  4. Phương pháp trọng số dự báo suy thoái: Quy trình chấm điểm trọng số gồm 4 bước: đánh giá hiện trạng hệ sinh thái; xác định các yếu tố gây suy thoái; xác định điểm trọng số cho từng yếu tố; tính toán mức độ suy thoái diện tích hệ sinh thái theo thời gian dự báo đến năm 2050.
  5. Nhóm phương pháp lượng giá tổn thất kinh tế:
    • Phương pháp giá thị trường (Market Price - MP): Sử dụng để tính toán giá trị trực tiếp từ khai thác thủy sản và lượng giá giá trị hấp thụ CO2 của hệ sinh thái rừng dựa trên đơn giá tín chỉ carbon trên thị trường thế giới và thị trường châu Âu.
    • Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method - TCM) kết hợp điều tra phỏng vấn thay đổi hành vi du khách: Đánh giá tỷ lệ sụt giảm lượng khách du lịch nội địa và quốc tế khi các hệ sinh thái biển đảo bị suy thoái.
    • Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM): Dùng để xác định giá trị phi sử dụng thông qua mức độ sẵn sàng chi trả (WTP) bình quân của người dân cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học.
    • Phương pháp tính toán lợi ích sinh thái của Alan White: Dùng để xác lập mối quan hệ tỷ lệ giữa giá trị khai thác thủy sản với các dịch vụ sinh thái gián tiếp (đa dạng sinh học, bãi giống, bãi đẻ).
    • Kỹ thuật chiết khấu tài chính: Luận án sử dụng tỷ suất chiết khấu $r = 10%$ để đưa các giá trị tổn thất dự báo ở năm 2050 về mặt bằng giá trị hiện tại thời điểm gốc năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu về lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về khoa học khí hậu, phân loại nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo, các chỉ số biểu hiện biến đổi khí hậu trên phạm vi Việt Nam và cấu trúc kịch bản nồng độ đại diện RCP. Chương này làm rõ cơ sở lý luận phân biệt giữa khái niệm "tổn thất" và "thiệt hại", định nghĩa tổn thất kinh tế tài nguyên môi trường và diễn giải chi tiết công thức tổng giá trị kinh tế (TEV).

Về mặt tổng quan tài liệu, chương điểm luận các công trình quốc tế nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới hệ sinh thái (Dyer, Amthor, Short, Gilman, Inkyin và Su) cũng như các nghiên cứu lượng giá thiệt hại kinh tế hệ sinh thái. Tại Việt Nam, chương tổng hợp các nghiên cứu về suy thoái hệ sinh thái (Nguyễn Huy Yết, Phạm Anh Cường, Nguyễn Đại An, Phạm Văn Thanh) và các nghiên cứu lượng giá tài nguyên (Nguyễn Thế Chinh, Đinh Đức Trường, Trần Đình Lân, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Thu Hà). Tiểu kết chương khẳng định khoảng trống tri thức: số lượng công trình nghiên cứu tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái vì biến đổi khí hậu ở Việt Nam còn hạn chế, các nghiên cứu chưa gắn với kịch bản biến đổi khí hậu mới của Bộ Tài nguyên và Môi trường, và tại đảo Phú Quốc chưa có công trình nào lượng giá tổn thất kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra đối với các hệ sinh thái.

Chương 2: Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên cứu

Chương 2 mô tả hệ thống phương pháp luận, các bước kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu, quy trình chấm điểm trọng số dự báo suy thoái diện tích, và các phương pháp lượng giá kinh tế môi trường (MP, TCM, CVM, hệ số sinh thái Alan White). Bên cạnh đó, chương cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu:

  • Vị trí địa lý và địa hình: Huyện đảo Phú Quốc nằm ở vùng biển Tây Nam Bộ, có tổng diện tích tự nhiên là 567,88 km², chiều dài đường bờ biển xấp xỉ 150 km. Đảo có dạng hình tam giác, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với các dải đồi núi liên tục.
  • Khí hậu và thủy - hải văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mạng lưới thủy văn gồm các sông suối dài 281,5 km, trong đó có 3 hệ thống sông dài trên 10 km và 5 hệ thống suối có diện tích lưu vực trên 10 km². Chế độ hải văn mang đặc điểm nhật triều không đều, số ngày bán nhật triều rất ít, sóng phân hóa 2 mùa rõ rệt, độ mặn nước biển đạt 30,3‰. Giai đoạn 1979–2018, nhiệt độ trung bình tại đảo là 27,5°C (xu thế tăng 0,02°C/năm), lượng mưa trung bình năm đạt 2.831 mm (xu thế giảm 0,9 mm/năm).
  • Hiện trạng 4 hệ sinh thái tiêu biểu:
    • Rừng trên đảo: Chủ yếu là rừng kín thường xanh và rừng úng phèn (rừng tràm).
    • Rừng ngập mặn: Diện tích khoảng 17,9 ha, mọc trên nền cát thành các dải hẹp ven cửa sông, rạch với mật độ trung bình đến thấp; ghi nhận 103 loài và dưới loài thực vật bậc cao có mạch; ít bị suy thoái do nằm trong ranh giới Vườn quốc gia Phú Quốc.
    • Thảm cỏ biển: Diện tích khoảng 10.000 ha phân bố tại vùng triều ven đảo phía Đông và Tây Bắc; gồm 9 loài; độ che phủ trung bình đạt 54,8%; nguồn lợi cá và động vật đáy lớn đã bị suy giảm, chỉ còn lại các nhóm kích thước nhỏ và giá trị kinh tế thấp.
    • Rạn san hô: Diện tích 473,9 ha phân bố chủ yếu ở phía Nam quần đảo An Thới và phía Tây Bắc đảo; thành phần phong phú với 260 loài; độ phủ san hô sống đạt trung bình 49,3%; tuy nhiên nguồn lợi cá và sinh vật đáy lớn đã bị khai thác cạn kiệt.
  • Kịch bản biến đổi khí hậu cho Phú Quốc:
    • Kịch bản RCP4.5: Nhiệt độ trung bình năm tăng 1,2°C (giữa thế kỷ) và 1,7°C (cuối thế kỷ); lượng mưa năm tăng 6,7% (giữa thế kỷ) và 12,8% (cuối thế kỷ); mực nước biển dâng giữa thế kỷ là 23 cm, nguy cơ gây ngập 391,88 ha (khoảng 0,68% diện tích đảo).
    • Kịch bản RCP8.5: Nhiệt độ trung bình năm tăng 1,5°C (giữa thế kỷ) và 3,2°C (cuối thế kỷ); lượng mưa năm tăng 12,2% (giữa thế kỷ) và 16,5% (cuối thế kỷ); mực nước biển dâng giữa thế kỷ là 28 cm, nguy cơ gây ngập 434,63 ha (khoảng 0,76% diện tích đảo).
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số đến năm 2018 đạt trên 125 nghìn người, mật độ trung bình 211 người/km²; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 60.117 người, chiếm 48% dân số.

Chương này hoàn thiện khung logic lượng giá: xác định mức độ suy thoái diện tích hệ sinh thái gắn với kịch bản biến đổi khí hậu là căn cứ để tính toán tỷ lệ tổn thất các dòng giá trị kinh tế trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng.

Chương 3: Kết quả lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái vùng biển đảo Phú Quốc dưới tác động của biến đổi khí hậu

Chương 3 trình bày các kết quả tính toán định lượng về suy thoái diện tích và quy đổi tổn thất kinh tế cho các hệ sinh thái đến năm 2050:

  1. Dự báo mức độ suy thoái các hệ sinh thái đến năm 2050:
  • Rừng trên đảo: Theo RCP4.5 suy thoái tổng cộng 15,36% (biến đổi khí hậu đóng góp 1,92%); theo RCP8.5 suy thoái 17,28% (biến đổi khí hậu đóng góp 3,84%).
  • Rừng ngập mặn: Theo RCP4.5 suy thoái tổng cộng 19,2% (biến đổi khí hậu đóng góp 6,4%); theo RCP8.5 suy thoái 22,4% (biến đổi khí hậu đóng góp 9,6%).
  • Thảm cỏ biển: Theo RCP4.5 suy thoái tổng cộng 16,8% (biến đổi khí hậu đóng góp 4,8%); theo RCP8.5 suy thoái 21,6% (biến đổi khí hậu đóng góp 9,6%).
  • Rạn san hô: Theo RCP4.5 suy thoái tổng cộng 21,12% (biến đổi khí hậu đóng góp 3,84%); theo RCP8.5 suy thoái 24,96% (biến đổi khí hậu đóng góp 7,68%).
  1. Tính toán tổn thất kinh tế theo các hợp phần giá trị:
  • Tổn thất giá trị sử dụng trực tiếp về khai thác thủy sản: Giá trị khai thác thủy sản trực tiếp hiện trạng của Phú Quốc đạt 2.351,042 tỷ đồng/năm. Theo kịch bản RCP4.5 đến năm 2050, diện tích hệ sinh thái biển mất trung bình 4,32% (cỏ biển suy thoái 4,8%, san hô suy thoái 3,84%), gây tổn thất 101,57 tỷ đồng/năm. Theo kịch bản RCP8.5, diện tích hệ sinh thái biển mất trung bình 8,64% (cỏ biển suy thoái 9,6%, san hô suy thoái 7,68%), gây tổn thất 203,13 tỷ đồng/năm.
  • Tổn thất giá trị sử dụng trực tiếp về du lịch: Kết quả điều tra hành vi cho thấy mức độ suy thoái hệ sinh thái càng lớn thì tỷ lệ khách du lịch không quay trở lại càng cao; kịch bản RCP8.5 có tỷ lệ khách không quay lại lớn hơn kịch bản RCP4.5, và khách nội địa có xu hướng không quay lại cao hơn khách quốc tế. Tổn thất doanh thu du lịch theo kịch bản RCP4.5 là 361,012 tỷ đồng/năm (ghi nhận 361.012 triệu đồng/năm); theo kịch bản RCP8.5 là 1.081,94 tỷ đồng/năm (ghi nhận 1.081.937 triệu đồng/năm).
  • Tổn thất giá trị gián tiếp về đa dạng sinh học, nơi sinh cư và bãi giống thủy sản: Dựa trên phương pháp của Alan White từ nền giá trị thủy sản 2.351,042 tỷ đồng, tổng lợi ích sinh thái đạt 470,21 tỷ đồng/năm. Theo kịch bản RCP4.5, diện tích hệ sinh thái biển mất trung bình 5,01% (rừng ngập mặn mất 6,4%, cỏ biển suy thoái 4,8%, san hô suy thoái 3,84%), tương ứng mức tổn thất 23,56 tỷ đồng/năm. Theo kịch bản RCP8.5, diện tích hệ sinh thái biển mất trung bình 8,96% (rừng ngập mặn mất 9,6%, cỏ biển suy thoái 9,6%, san hô suy thoái 7,68%), tương ứng mức tổn thất 42,13 tỷ đồng/năm.
  • Tổn thất giá trị gián tiếp về hấp thụ CO2 của hệ sinh thái rừng: Tính toán theo phương pháp giá thị trường trực tiếp cho thấy:
    • Kịch bản RCP4.5: Rừng trên đảo suy thoái 1,92%, giá trị lưu trữ và hấp thụ carbon giảm 1.262,94 nghìn USD (thị trường thế giới) và giảm 2.210,14 nghìn Euro (thị trường châu Âu). Rừng ngập mặn suy thoái 6,4%, giá trị lưu trữ và hấp thụ carbon giảm 1,59 nghìn USD (thị trường thế giới) và giảm 2,79 nghìn Euro (thị trường châu Âu). Tổng tổn thất giá trị hấp thụ carbon dao động từ 29,4 đến 58,42 tỷ đồng/năm.
    • Kịch bản RCP8.5: Rừng trên đảo suy thoái 3,84%, giá trị giảm 2.525,88 nghìn USD (thế giới) và giảm 4.420,29 nghìn Euro (châu Âu). Rừng ngập mặn suy thoái 9,6%, giá trị giảm 2,39 nghìn USD (thế giới) và giảm 4,19 nghìn Euro (châu Âu). Tổng tổn thất giá trị hấp thụ carbon dao động từ 58,78 đến 116,8 tỷ đồng/năm.
  • Tổn thất giá trị phi sử dụng: Mức sẵn sàng chi trả (WTP) trung bình đạt xấp xỉ 87.000 đồng/hộ/năm, tương đương tổng giá trị phi sử dụng nền của các hệ sinh thái đạt 2,41 tỷ đồng/năm. Theo kịch bản RCP4.5, diện tích suy thoái trung bình 4,24%, gây tổn thất 102,2 triệu đồng/năm (0,102 tỷ đồng/năm). Theo kịch bản RCP8.5, diện tích suy thoái trung bình 7,68%, gây tổn thất 185,1 triệu đồng/năm (0,185 tỷ đồng/năm).

Số liệu tổng hợp toàn bộ các dòng tổn thất kinh tế được trình bày trong bảng sau:

STT Hợp phần tổn thất kinh tế Kịch bản BĐKH RCP4.5 năm 2050 (tỷ đồng/năm) Kịch bản BĐKH RCP8.5 năm 2050 (tỷ đồng/năm)
I Tổn thất kinh tế các giá trị sử dụng trực tiếp
1.1 Tổn thất khai thác thủy sản 101,57 203,13
1.2 Tổn thất du lịch 361,00 1.081,94
II Tổn thất kinh tế các giá trị sử dụng gián tiếp
2.1 Tổn thất giá trị hấp thụ CO2 29,40 – 58,42 58,78 – 116,80
2.2 Tổn thất giá trị cung cấp môi trường sống (sinh cư), nguồn giống thủy sản 23,56 42,13
III Tổn thất kinh tế giá trị phi sử dụng 0,102 0,185
Tổng tổn thất kinh tế (chưa chiết khấu về thời điểm 2018) 515,63 – 544,65 1.386,16 – 1.444,19
Tổng tổn thất kinh tế (đã chiết khấu về thời điểm 2018, $r = 10%$) 24,42 – 25,80 65,65 – 68,40

Về các giải pháp, chương đề xuất 3 nhóm giải pháp chính:

  1. Bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu: thiết lập cơ sở dữ liệu nền, theo dõi biến động hệ sinh thái, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong phục hồi, tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực cán bộ.
  2. Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các hệ sinh thái: lồng ghép kết quả lượng giá tổn thất vào quy hoạch phát triển kinh tế ngành, quy hoạch bảo tồn thiên nhiên và xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường.
  3. Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng: tổ chức các cuộc thi sáng tạo ý tưởng bảo tồn hệ sinh thái, đẩy mạnh truyền thông đại chúng và lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông các cấp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận: Luận án góp phần xây dựng cơ sở lý luận và hoàn thiện quy trình lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái các hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu áp dụng cho địa bàn huyện đảo, thiết lập mối liên kết giữa mức độ suy thoái diện tích với từng cấu phần giá trị kinh tế.
  • Về dự báo suy thoái: Luận án đã dự báo định lượng mức độ suy thoái diện tích của bốn hệ sinh thái điển hình (rừng trên đảo, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô) tại vùng biển đảo Phú Quốc theo các kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 đến năm 2050.
  • Về kết quả lượng giá: Luận án tính toán được tổng tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái theo hai kịch bản biến đổi khí hậu. Trong đó, tổn thất đối với ngành du lịch và hoạt động khai thác thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất, tổn thất giá trị phi sử dụng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất.
  • Về thực tiễn và giải pháp: Luận án đề xuất được ba nhóm giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu tổn thất kinh tế sinh thái tại địa phương, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững huyện đảo Phú Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các tồn tại và hạn chế kỹ thuật trong quá trình thực hiện:

  • Công tác thu thập tài liệu gặp nhiều rào cản do tính bản quyền thông tin; hệ thống số liệu thứ cấp thu nhận từ các cơ quan quản lý tại địa phương chưa thực sự đồng bộ và đầy đủ.
  • Số liệu sơ cấp điều tra bằng bảng hỏi còn tồn tại sai số nhất định do sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng hồi đáp phỏng vấn và tỷ lệ phỏng vấn thành công trên tổng số phiếu khảo sát (mặc dù mức độ sai số nằm trong phạm vi chấp nhận được).
  • Hệ sinh thái thảm cỏ biển có vai trò sinh thái và diện tích phân bố rất lớn tại Phú Quốc (khoảng 10.000 ha), song luận án chưa lượng giá được toàn bộ các dòng giá trị của hệ sinh thái này, đặc biệt là giá trị hấp thụ và lưu trữ CO2.
  • Các giải pháp đề xuất nhằm giảm thiểu tổn thất kinh tế cho hệ sinh thái mới dừng ở mức xây dựng định hướng và cơ chế, chưa được đưa vào thử nghiệm và kiểm chứng hiệu quả thực tế trên địa bàn.
  • Do phạm vi đối tượng nghiên cứu rộng, tổng giá trị tổn thất của toàn bộ các hệ sinh thái chưa được bóc tách và lượng giá ở mức độ tuyệt đối chi tiết.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất bao gồm:

  1. Tiếp tục mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về các dòng giá trị bị tổn thất của hệ sinh thái cỏ biển, trọng tâm là lượng giá định lượng khả năng hấp thụ và lưu trữ CO2.
  2. Thực hiện nghiên cứu đánh giá và lượng giá tổn thất kinh tế sau khi đã triển khai các nhóm giải pháp thích ứng, nhằm tính toán chính xác mức độ chênh lệch kinh tế giữa kịch bản "có giải pháp" và kịch bản "không có giải pháp".

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở dữ liệu và phương pháp luận hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang): Kết quả lượng giá tổn thất là tài liệu tham khảo trong quá trình thẩm định quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính sách thu hút đầu tư, quy hoạch mạng lưới các khu bảo tồn và thiết lập đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ môi trường biển đảo.
  • Ban quản lý Vườn quốc gia Phú Quốc và Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc: Dữ liệu dự báo mức độ suy thoái cụ thể của 17,9 ha rừng ngập mặn, 10.000 ha thảm cỏ biển và 473,9 ha rạn san hô hỗ trợ các nhà quản lý xây dựng kế hoạch khoanh vùng bảo vệ, quan trắc biến động sinh thái và điều chỉnh phân khu chức năng phù hợp với các kịch bản nước biển dâng.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và các viện nghiên cứu chuyên ngành biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và kinh tế môi trường: Luận án là tài liệu tham khảo về khung logic tích hợp giữa phương pháp chấm điểm trọng số nguyên nhân suy thoái sinh thái với các kỹ thuật kinh tế học môi trường (MP, TCM, CVM, hệ số sinh thái Alan White).

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái tại đảo Phú Quốc theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 đến năm 2050 được xác định là bao nhiêu?
Theo kịch bản RCP4.5, tổng tổn thất kinh tế chưa chiết khấu dao động từ 515,63 đến 544,65 tỷ đồng/năm (khi chiết khấu về thời điểm gốc năm 2018 với tỷ suất $r = 10%$ thì đạt 24,42 đến 25,80 tỷ đồng/năm). Theo kịch bản RCP8.5, tổng tổn thất kinh tế chưa chiết khấu dao động từ 1.386,16 đến 1.444,19 tỷ đồng/năm (khi chiết khấu về năm 2018 với $r = 10%$ thì đạt 65,65 đến 68,40 tỷ đồng/năm).

2. Hợp phần kinh tế nào chịu thiệt hại nặng nề nhất và hợp phần nào chiếm tỷ trọng tổn thất thấp nhất?
Tổn thất đối với hoạt động du lịch chịu mức thiệt hại lớn nhất (đạt 361 tỷ đồng/năm ở kịch bản RCP4.5 và 1.081,94 tỷ đồng/năm ở kịch bản RCP8.5), tiếp theo là tổn thất khai thác thủy sản (101,57 tỷ đồng/năm ở RCP4.5 và 203,13 tỷ đồng/năm ở RCP8.5). Hợp phần có giá trị tổn thất thấp nhất là giá trị phi sử dụng (chỉ chiếm 0,102 tỷ đồng/năm ở kịch bản RCP4.5 và 0,185 tỷ đồng/năm ở kịch bản RCP8.5).

3. Phương pháp nào được sử dụng để dự báo mức độ suy thoái của các hệ sinh thái theo kịch bản biến đổi khí hậu?
Luận án sử dụng phương pháp chấm điểm trọng số kết hợp tham vấn chuyên gia. Quy trình thực hiện qua 4 bước: đánh giá hiện trạng suy thoái của hệ sinh thái; xác định các yếu tố gây suy thoái; chấm điểm trọng số cho các yếu tố gây suy thoái theo từng kịch bản biến đổi khí hậu; tính toán mức độ suy thoái hệ sinh thái theo mốc thời gian dự báo đến năm 2050.

4. Cơ sở dữ liệu và công cụ nào được dùng để tính toán giá trị tổn thất hấp thụ CO2 của hệ sinh thái rừng tại Phú Quốc?
Luận án áp dụng phương pháp giá thị trường trực tiếp (Market Price - MP), tính toán dựa trên mức độ suy thoái diện tích rừng trên đảo và rừng ngập mặn, kết hợp tham chiếu đơn giá giao dịch tín chỉ carbon trên thị trường thế giới (tính bằng USD) và thị trường châu Âu (tính bằng EUR).

5. Vì sao giá trị hấp thụ CO2 của hệ sinh thái cỏ biển chưa được lượng giá trong công trình này?
Mặc dù thảm cỏ biển có diện tích rất lớn (khoảng 10.000 ha) và giữ vai trò sinh thái quan trọng tại Phú Quốc, nhưng do hạn chế về nguồn tài liệu thứ cấp, số liệu thực nghiệm nền và phạm vi nghiên cứu, luận án chưa có đủ dữ liệu kiểm chứng để lượng giá chỉ tiêu hấp thụ CO2 của cỏ biển; đây được tác giả xếp vào phần hạn chế và kiến nghị nghiên cứu chuyên sâu ở giai đoạn sau.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đào Hương Giang đã hoàn thiện quy trình khoa học để lượng giá tổn thất kinh tế do suy thoái hệ sinh thái dưới tác động của biến đổi khí hậu tại vùng biển đảo Phú Quốc đến năm 2050. Kết quả tính toán chỉ ra rằng kịch bản phát thải cao RCP8.5 gây ra mức tổn thất kinh tế lớn gấp gần ba lần so với kịch bản phát thải trung bình RCP4.5, trong đó ngành du lịch và khai thác thủy sản chịu thiệt hại trực tiếp nặng nề nhất. Các phát hiện định lượng này cùng hệ thống ba nhóm giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch không gian biển và xây dựng chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương.