MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người. Con người sử dụng tài nguyên đất chủ yếu vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lương thực thực phẩm cho con người.
Tuy nhiên qua hoạt động sống của con người môi trường đất đã và đang ngày càng suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất là do hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV). Ô nhiễm đất HCBVTV (ở khu vực lân cận các điểm lưu trữ HCBVTV quá hạn, cấm sử dụng) dẫn đến sự phát tán ra xung quanh, bị rửa trôi vào lưu vực, xâm nhập vào nguồn nước ngầm và trầm tích. Từ môi trường đất, nước, trầm tích, HCBVTV sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, đặc biệt là các động vật đáy (như cá, sò, cua, ốc, hến…) gây lo lắng sức khỏe cho người tiêu thụ.
Tác động bất lợi cho động vật trên cạn, hủy hoại môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho loài người trên thế giới thì đầu thế kỷ XX HCBVTV đã được đưa vào sử dụng, hàng loạt nhà máy sản xuất HCBVTV xây dựng, từ những năm 70 của thế kỷ XX nước ta đã thành lập các kho trung chuyển mặt hàng này, đảm bảo kịp thời vụ, hầu như mỗi đơn vị từ tuyến huyện, tỉnh, đến trung ương đều có kho lưu giữ hóa chất. Một vài năm trở lại đây vấn đề ô nhiễm HCBVTV tồn dư tại các kho cũ trên địa bàn thị xã Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận và các cơ quan quản lý môi trường. Hiện nay các kho chứa HCBVTV cũ đã được dỡ bỏ từ lâu, tuy nhiên hầu hết các kho hàng được xác 2 định gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường, tác động đến sức khỏe người dân và ảnh hưởng không nhỏ tới quy hoạch.
Thực tế cho thấy do thiếu sự hiểu biết, ít thông tin nên hầu hết khu vực HCBVTV trước đây đã trở thành công trình công cộng, ruộng, vườn canh tác, thậm chí là đất ở, vì vậy việc phơi nhiễm HCBVTV đối với người dân là rất lớn, có thể gây những căn bệnh rất nguy hiểm như ung thư, quái thai, dị dạng, giảm khả năng sinh nở… Tuy nhiên đến nay chưa có một hoạt động nghiên cứu cụ thể nào tiến hành rà soát một cách tổng thể trên phạm vi toàn thị xã có thể khoanh vùng, đánh giá mức độ ô nhiễm của các khu vực tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật và đề ra các phương án xử lý triệt để ô nhiễm cho từng khu vực. Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của Th.s Hà Đình Nghiêm. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá ảnh hƣởng của tồn dƣ hóa chất bảo vệ thực vật tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều - Thôn Bắc Sơn, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh’’. Mục đích nghiên cứu Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do tồn dư của hóa chất bảo vệ thực vật, tại kho trung chuyển hóa chất đến môi trường đất…từ đó đánh giá các ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân địa phương và đưa ra các giải pháp khuyến cáo, xử lý triệt để ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tồn dư tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá ảnh hưởng của việc ô nhiễm HCBVTV đến sức khỏe của người dân địa phương. 3 - Đề xuất biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường do HCBVTV. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về mức độ nguy hiểm của hóa chất BVTV đối với sức khỏe và hệ sinh thái. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc thực hiện đề tài có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Kết quả của đề tài có thể sử dụng để khuyến cáo các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân địa phương xung quanh khu vực nghiên cứu. Có thể làm tư liệu thực hiện các giải pháp triệt để ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan Khái niệm hóa chất thuốc bảo vệ thực vật Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh “Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại. Dịch sang tiếng Việt các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: Thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật.
Như vậy HCBVTV là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các Vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng. Hóa chất bảo vệ thực vật được coi là những hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hay chất tổng hợp nhân tạo được dùng để phòng trừ các sinh vật hại cây trồng, người ta quen gọi hóa chất bảo vệ thực vật là Pesticide-thuốc trừ dịch hại. Dựa theo đối tượng phòng trừ, có thuốc trừ sâu (insecticide), thuốc trừ nấm (herbicide), thuốc trừ dong tảo (algicide) và một số loại khác như trừ chuột, ve, rệp… Con người phải dùng tất cả các loại thuốc trên để đối phó với tất cả các loại đối tượng gây bệnh trên. Khái niệm về chất độc Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật 5 bị ngộ độc hoặc bị chết [8].
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Chất có khả năng ức chế, phá hủy hoặc làm chết cơ thể sống: khi đưa một lượng nhỏ chất độc vào cơ thể (qua miệng, dạ dày, thở hít qua phổi, thấm qua da…) hoặc khi được hấp thụ vào máu trong những điều kiện nhất đinh, gây ra những rối loạn sinh lý của cơ thể, làm nguy hại cho sức khỏe hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Hiện tượng này còn gọi là ngộ độc. Khái niệm về độc tính Độc tính: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó [8]. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật.
Độc tính được chia ra các dạng: Độc cấp tính: Chấp độc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thì, kí hiệu LD50 (letal dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1 kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc thỏ). LD50 khác nhau tùy loại chất độc, con đường xâm nhập (qua miệng, qua da…) vào vật thí nghiệm. Nếu chất độc lẫn với không khí (hơi độc, hay ở trong nước) thì được kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong 1m3 không khí hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50% cả thể thí nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độc độc tính càng cao.
Độc mãn tính: Chỉ khả năng tích lũy chất độc trong cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng. Nếu thường xuyên làm việc nơi có chất độc (xưởng hóa chất, xử lý chất phế thải, xản xuất và phun thuốc trừ sâu…) thì cần đầy đủ quy trình bảo hộ lao động, quy định kiểm tra độ độc nơi làm việc và khám sức khỏe thường xuyên. Khái niệm ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [9]. 6 Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất Ô nhiếm môi trường đất là đưa vào môi trường đất các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường đất.
Đất được xem là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của môi trường đất. Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí là do các thành phần khác nhau của loại chất rắn, lỏng, khí khi mà chúng phân tán ra rất nhanh vào khí quyển khi chúng có điều kiện thuận lợi, với nồng độ vừa đủ gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu tới sự sinh trường, phát triển của động vật, thực vật, phá hủy vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường. Khái niệm về sự cố môi trường Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/06/2014 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 18/6/2014 - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Luật bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. 7 - Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng. - Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng. - Thông tư số 10/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung vể Quản lý chất lượng công trình xây dựng.