CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG CẦU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG. Điều kiện địa lý, địa hình, địa chất khu vực đồng bằng sông Cửu Long: 1. Điều kiện địa lý: Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mĩ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở 106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Ngoài ra còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, Hòn Khoai.
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39. Có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạ t đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau.
Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ. Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định bằng C14 cho HỌC VIÊN: TRỊNH THẾ TRỌNG TRANG 15 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN THẠC QUANG thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8. Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm (Blackwelder và những người khác, 1979), gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu (Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấy trầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.
Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp. Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit).
Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5. và những người khác, 1982). Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.
Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc HỌC VIÊN: TRỊNH THẾ TRỌNG TRANG 16 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN THẠC QUANG (Rhizophora sp.) được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm (Melaleuca sp.) và những loài thực thực vật hoang dại khác (Fimbristylis sp. Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn (Pons L. và những người khác, 1989).1: Châu thổ sông Mêkông Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa (Morgan F., 1961), những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ (Morisawa, 1985)(xem hình 1.
Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dày tầng đất vùng và không gian vùng (Pons L. Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển (Moormann, 1961). Tuy nhiên, HỌC VIÊN: TRỊNH THẾ TRỌNG TRANG 17 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN THẠC QUANG độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng (Moormann và Pons, 1974).
Địa hình: ĐBSCL có diện tích 40.000 km2, địa hình thấp và khá bằng phẳng, không có đê, mạng lưới sông ngòi chằng chịt, nên vào mùa lũ bị ngập nước, mùa cạn nước triều nhấn mạnh vào đồng bằng. trên bề mặt đồng bằng còn có những vùng trũng lân như Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên. Địa hình phù sa châu thổ tạo những cánh đồng lúa phì nhiêu, biến khu vực đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa lớn của Việt Nam và của thế giới (Việt Nam đứng đầu danh sách các nước xuất khẩu gạo vượt Thái Lan và Ấn Độ) (xem hình 1. Địa chất: Đặc điểm địa chất công trình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cấu trúc đồng bằng sông Cửu Long có dạng bồn trũng theo hướng Đông Bắc.
Tây Bắc trung tâm bồn trũng là vùng kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Vây quanh vùng trung tâm là các vùng cánh của bồn trũng và xa hơn là các đới nâng cao của móng đá lộ ra ở Bình Dương, Đồng Nai, An Giang. Các tài liệu nghiên cứu phần lộ cho thấy tuổi của móng đá trước Kainozoi (khoảng trên 656 triệu năm). Phủ trên móng đá là các trầm tích trẻ (trầm tích Holoxen) có tuổi khoảng 15.000 năm có chiều sâu tới 110m.
HỌC VIÊN: TRỊNH THẾ TRỌNG TRANG 18 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN THẠC QUANG Hình 1.2: Đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long Địa tầng tổng hợp vùng đồng bằng Cửu Long gồm các tầng sau: + Tầng trầm tích Haloxen được chia thành 3 bậc: -Bậc Haloxen dưới gồm cát vàng đến xám tro, chứa sỏi nhỏ, phủ trên tầng đất sét loang lổ Pleitoxen, chiếu dày tới 12m. -Bậc Haloxen giữa gồm bùn sét máu xám, sét xám xanh và xám vàng, chiếu dày từ 10 ÷ 70m. -Bậc Holoxen trên gồm các tầng trầm tích khác nhau về điều kiện thành tạo, thành phần vật chất, tuổi và điều kiện phân bố: + Tầng trầm tích biển, sông biển hỗn hợp và sinh vật gồm các loại đất hạt mịn và bùn sét hữu cơ. + Tầng trầm tích sinh vật, đầm lầy ven biển gồm bùn sét hữu cơ, than bùn.
+ Tầng trầm tích sông hồ hỗn hợp sinh vật gồm bùn sét hữu cơ, than bùn. + Tầng bồi tích gồm sét, á sét trạng thái chảy, bùn á sét hoặc bùn sét hữu cơ. HỌC VIÊN: TRỊNH THẾ TRỌNG TRANG 19 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN THẠC QUANG Chiều dày thành tạo thành trầm tích Holoxen trên biến đổi từ 9 ÷ 20m. Toàn bộ chiều dày trầm tích Holoxen đạt tới 100m.
+ Tầng bồi tích cổ (Trầm tích Pleixtoxen): gồm các tập hạt mịn xen kẹp với 3 đến 5 tập hạt thô. Mỗi tập hạt mịn dày từ 1 ÷ 2m đến 40 ÷ 50m, các tập hạt thô thay đổi từ 4 ÷ 85m. Dựa theo kết quả khảo sát địa chất trong phạm vi độ sâu khoảng 30m trở lại của các công trình thủy lợi thuộc các tỉnh Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu… cò thể phân chia các lớp đất nền ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long như sau: - Lớp đất ở trên mặt: dày khoảng 0,5 ÷ 1,0m gồm các loại đất sét hạt bụi đến hạt cát, có màu xám nhạt đến vàng xám. - Lớp đất sét hữu cơ: có chiều dày thay đổi từ 3 ÷ 20m, chiều dày tăng dần về phía biển.
Lớp sét hữu cơ có màu xám đen, xám nhạt hay vàng nhạt. Hàm lượng hạt sét chiếm 40 ÷ 70%. Hàm lượng hữu cơ thường 2 ÷ 8%. Đất rất ẩm, thường bão hòa nước, đất ở trạng thái dẻo chảy đến chảy.
Chỉ tiêu vật lý như sau: + Độ ẩm tự nhiên W = 50 ÷ 100% + Giới hạn chảy WL = 50 ÷ 100% + Giới hạn dẻo WP = 20 ÷ 70% + Chỉ số dẻo Ip = 20 ÷ 65% +Hệ số rỗng eo = 1,2 ÷ 3,0 +Dung trọng tự nhiên W = 1,35 ÷ 1,65g/cm3 - Lớp sét cát lẫn ít sạn, mảnh vụn laterit và vỏ sò hay lớp cát: lớp này dày khoảng 3 ÷ 5m, thường nằm chuyển tiếp giữa lớp sét hữu cơ và lớp sét không hữu cơ. Theo quan điểm địa chất công trình thì bùn là các lớp đất mới được tạo thành trong môi trường nước ngọt hay trong môi trường biển gồm các hạt rất mịn.