MỞ ĐẦU Nói lắp là một rối loạn lời nói làm giảm khả năng tương tác xã hội của người nói [24]. Theo báo cáo của Yairi và cộng sự (2013) về nói lắp, kết quả tổng hợp từ các nghiên cứu được thực hiện ở châu Âu và Úc cho thấy tỉ lệ hiện mắc trung bình của nói lắp là khoảng 1% [72]. Đến nay chưa có chứng cứ cho thấy sự khác nhau về tỉ lệ hiện mắc nói lắp giữa các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau [46]. Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở của quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), tổng dân số Việt Nam năm 2019 là 96,208,984 người [61].
Dựa theo tỉ lệ hiện mắc trung bình được đồng thuận là 1%, tỉ lệ hiện mắc của nói lắp ở dân số Việt Nam là hơn 962,000 người. Trong đa phần những người nói lắp, sự lo lắng liên quan đến lời nói trở thành đặc điểm nổi bật và giảm hiệu quả giao tiếp [58]. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của họ, đặc biệt là chức năng xã hội và sức khỏe tâm thần của người nói lắp [13]. Đã có những nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa lo âu xã hội và nói lắp.
Trong đó, thang đo những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp (The Unhelpful Thoughts and Beliefs about Stuttering scale - UTBAS) là một công cụ đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích liên quan đến lo âu xã hội mà có liên quan đến lời nói ở người lớn nói lắp [27], [58]. Thang đo UTBAS có tổng cộng 3 thang đo thành phần, 66 câu hỏi giống nhau cho 3 thang đo này có thể lượng giá đầy đủ những suy nghĩ và niềm tin tiêu cực liên quan đến nói lắp. Tuy nhiên, thang đo với 66 câu hỏi cần nhiều thời gian để thực hiện, vì vậy, phiên bản rút gọn 6 câu (UTBAS-6) được phát triển và đã được chứng minh qua nghiên cứu là một công cụ có giá trị và tin cậy để đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích kết hợp với lo âu xã hội liên quan đến lời nói ở người lớn nói lắp [24]. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về những suy nghĩ tiêu cực liên quan đến lời nói ở người lớn nói lắp.
Bên cạnh đó cũng chưa có một công cụ tiếng Việt nào đo lường lĩnh vực này. Thang đo UTBAS-6 là một công cụ tiếng Anh, được xây dựng trong một bối cảnh văn hóa xã hội nói tiếng Anh, và đã có một số nghiên cứu. chuyển ngữ sang các ngôn ngữ khác như thang UTBAS-J ở Nhật [10] và thang UTBAS-TR ở Thổ Nhĩ Kỳ [3], nhưng hiện vẫn chưa có phiên bản tiếng Việt của thang đo này. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích chuyển ngữ thang đo UTBAS-6 sang tiếng Việt và đánh giá tính giá trị và tin cậy của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt trong đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp.
Câu hỏi nghiên cứu Thang đo UTBAS-6 tiếng Việt có tính giá trị và tin cậy như thế nào trong đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp? Mục tiêu nghiên cứu Xác định tính giá trị và tính tin cậy của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt trong đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp. Mục tiêu cụ thể 1. Tạo bản chuyển ngữ tiếng Việt thang đo UTBAS-6 gốc bằng tiếng Anh theo đúng quy trình của nghiên cứu chuyển ngữ công cụ đo lường. Xác định tính giá trị bề mặt, giá trị nội dung, giá trị hội tụ, và giá trị phân tán của thang đo UTBAS-6 phiên bản tiếng Việt.
Xác định tính thống nhất nội bộ, và tính tin cậy của thang đo UTBAS-6 phiên bản tiếng Việt. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nói lắp Nói lắp được định nghĩa là sự gián đoạn tính nhịp nhàng của chuỗi lời nói được đặc trưng bởi sự lặp lại hoặc kéo dài âm, âm tiết; hoặc bởi sự do dự hoặc tạm dừng khi nói [68]. Nguyên nhân Nói lắp được phân loại thành hai dạng là nói lắp mắc phải và nói lắp phát triển [46].
Nói lắp mắc phải là đề cập đến nói lắp gây ra bởi những nguyên nhân cụ thể. Nói lắp thần kinh gây ra bởi bệnh lý, các tổn thương não hoặc các bệnh thoái hóa thần kinh khác. Nói lắp tâm lý bắt nguồn từ một sang chấn tâm lý hoặc cảm xúc. Nói lắp do thuốc xảy ra do tác phụ của thuốc [63].
Nói lắp phát triển là hình thức phổ biến nhất và cũng là đối tượng của nghiên cứu này. Nguyên nhân của nói lắp phát triển chưa được biết đến rõ ràng. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy tác động của yếu tố sinh học đến tình trạng nói lắp phát triển. Cụ thể, các yếu tố di truyền đã được chứng minh là có mối liên quan đến nói lắp phát triển [72].
Nhiều nghiên cứu ở người sinh đôi cho thấy mức độ tương thích ở những cặp sinh đôi cùng trứng cao hơn những cặp sinh đôi khác trứng [16], [47], [49]. Ngoài ra, các nghiên cứu đã cho thấy sự đột biến ở bốn gen (GNPTAB, GNPTG, NAGPA, AP4E1) có liên quan đến những trường hợp nói lắp kéo dài suốt đời [19]. Một số nghiên cứu gần đây tập trung vào yếu tố sinh học. Qua các nghiên cứu này cho thấy rằng tác động của di truyền đối với nói lắp là rất phức tạp.
Bên cạnh gen, còn có nhiều yếu tố khác kết hợp tương tác cùng nhau. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có những bất thường trong cấu trúc và chức năng ở những vùng não chịu trách nhiệm cho ngôn ngữ nói ở trẻ em và người lớn nói lắp [46]. Dường như những bất thường này liên quan đến quá trình xử lý vận động tạo lời nói [65]. Các nghiên cứu hình ảnh thần kinh cũng cho thấy những bất thường lan tỏa trong cấu trúc và chức năng các vùng não của trẻ em và người lớn [5], [18], [43].
Đã có những báo cáo về sự suy giảm tính toàn vẹn của chất trắng và những thay đổi hình thái ảnh hưởng đến. con đường ngôn ngữ - lời nói trong não [9]. Sự khác biệt về cấu trúc của chất xám ở người lớn [40], [44], [56] cũng như là ở trẻ em [20], [32] đã được ghi nhận. Rõ ràng rằng một yếu tố đơn độc là không đủ để gây ra nói lắp.
Cho đến thời điểm hiện tại, nguyên nhân của nói lắp vẫn chưa được biết nhưng có mối liên quan giữa nói lắp và các yếu tố đã đề cập ở trên [46]. Phân loại nói lắp Dựa vào hành vi lắp quan sát được, nói lắp được phân thành ba nhóm lớn: cử động lặp lại, tư thế cố định và hành vi dư thừa [46]. • Trọng tâm của cử động lặp lại là âm tiết. Có ba dạng lắp thuộc nhóm này: - Lặp âm tiết là sự lặp lại toàn bộ một âm tiết.
Ví dụ: “tôi – tôi – tôi – tôi”. - Lặp một phần âm tiết khi người nói chỉ lặp lại một phần trong âm tiết. - Lặp nhiều âm tiết khi nhiều hơn một âm tiết bị lặp lại. Ví dụ: “tôi đang – tôi đang – tôi đang nghĩ”.
• Tư thế cố định mô tả hành vi lắp xảy ra khi các cấu trúc của hệ tạo âm bất động trong khi một người đang nói. Các cấu trúc này là miệng, hàm và môi. Đôi khi sự bất động này diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nhưng đôi khi nó kéo dài sẽ làm gián đoạn sự giao tiếp. Những tư thế cố định có thể có hoặc không đi kèm luồng hơi nghe được.
- Tư thế cố định với luồng hơi nghe được (còn được gọi là sự kéo dài) bao gồm chủ yếu âm thanh đến từ sự tạo âm. Tư thế cố định với luồng hơi nghe được còn được gọi là “sự phát âm kéo dài” bởi vì dường như người nói đang kéo dài một âm. - Tư thế cố định với luồng hơi không nghe được (còn được gọi là sự tắc nghẽn) khi luồng hơi không tạo âm thanh. Tư thế cố định với luồng hơi không nghe được còn được gọi là “sự tắc nghẽn” bởi vì điều này tạo ấn tượng rằng một thứ gì đó đang chặn lời nói.
• Hành vi dư thừa là những yếu tố không tạo nên nghĩa cho lời nói được nói ra. Chúng có thể có lời hoặc không lời. - Hành vi dư thừa có lời là những âm xen kẽ trong lời nói như “ah – oh - um”. - Hành vi dư thừa không lời bao gồm mím môi, há miệng, nín thở, chớp mắt, nhướn chân mày, nhăn nhó, cử động của mặt, đầu và thân mình, rên rỉ, những tiếng ồn không phù hợp khác và sự dao động bất thường về cao độ và độ lớn.
Nói lắp là một rối loạn mang tính cá thể riêng biệt nên sẽ hiếm khi thấy hai người nói lắp có cùng các hành vi dư thừa không lời. Một hoặc nhiều hoặc thậm chí cả bảy dạng hành vi lắp có thể cùng xuất hiện trong một khoảnh khắc nói lắp. Ví dụ: khoảnh khắc nói lắp là cử động lặp lại có thể bao gồm lặp lại âm tiết và lặp lại một phần âm tiết “t – t – t – tôi – tôi – tôi”. Dịch tễ học của nói lắp 1.
Khởi phát nói lắp Từ những nghiên cứu phỏng vấn cha mẹ của những trẻ nói lắp, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng nói lắp thường khởi phát trong những năm đầu thời thơ ấu [46]. Tuổi trung bình khởi phát của nói lắp là 3 tuổi [2], [51], [69]. Nói lắp có thể xuất hiện đột ngột sau một khoảng thời gian nói bình thường. Một nghiên cứu cho thấy 49,6% trẻ biểu hiện nói lắp trong 1-3 ngày [51].
Cử động lặp lại là nhóm thường gặp nhất của khởi phát nói lắp [46]. Kết quả này tương tự với các kết quả nghiên cứu trước đây khi thống kê được ba dạng phổ biến nhất khi khởi phát nói lắp lần lượt là lặp lại một phần âm tiết, lặp lại một từ đơn âm tiết và xáo trộn sự tạo âm [1], [71]. Ngoài ra, các dạng khác của tư thế cố định và hành vi dư thừa cũng được tìm thấy ở trẻ nói lắp [11]. Tỉ lệ mới mắc tích lũy Tỉ lệ mới mắc tích lũy (CI) là một đo lường cho sự xuất hiện của một bệnh lý hoặc tình trạng sức khỏe trong một khoảng thời gian cụ thể [64].