MỞ ĐẦU Nói lắp là một rối loạn lời nói được đặc trưng bởi tần số hoặc thời gian ngưng lại bất thường khi nói [32]. Những gián đoạn này thường diễn ra dưới hình thức lặp lại các âm thanh, âm tiết hoặc các từ một âm tiết, kéo dài các âm thanh hoặc luồng hơi bị chặn lại trong khi nói [32]. Tác động của nói lắp không chỉ dừng lại ở các hành vi có thể quan sát được mà còn liên quan đến các trải nghiệm về cảm xúc, hành vi và quan điểm tiêu cực đến từ cả người nói và người nghe. Một nghiên cứu cho thấy nói lắp ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động nói xuyên suốt cuộc đời của một người và do đó rối loạn này làm hạn chế việc giao tiếp của người đó [12], gây ra sự cô lập và rút lui khỏi xã hội, bị trêu chọc và bắt nạt cũng như các vấn đề về sức khoẻ tâm thần [12], [23], [70].
Những điều này làm hạn chế khả năng một người tham gia vào các hoạt động hằng ngày, do đó nó có tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người nói lắp [12], [23]. Cảm giác thất vọng và bối rối về tình trạng nói lắp lặp đi lặp lại dẫn tới những cảm xúc và thái độ tiêu cực về giao tiếp và nỗi sợ về đánh giá tiêu cực khi họ nói [32]. Những phản ứng này về cơ bản thì không phải là bệnh lý nhưng sự tồn tại của chúng trong suốt cuộc đời có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng khác [12]. Vì vậy, thông tin về tác động nỗi sợ về đánh giá tiêu cực của người nói lắp không chỉ hữu ích cho việc hiểu được bản chất của chứng rối loạn nói lắp mà còn giúp các nhà nghiên cứu có thêm ý tưởng để phát triển những công cụ đánh giá kết quả điều trị với những yếu tố liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người nói lắp [70].
Nhiều công cụ đã được công bố và sử dụng để đo lường tác động về mặt cảm xúc của nói lắp, đặc biệt là về mức độ nỗi sợ về đánh giá tiêu cực trong nhóm người nói lắp. Trong đó thang đo nỗi sợ đánh giá tiêu cực (Fear of Negative Evaluation Scale, FNE) [65] đã được chứng minh là công cụ sàng. 2 lọc tâm lý phù hợp để xác định chứng lo âu ở người nói lắp trên lâm sàng cũng như có tính tin cậy và giá trị tốt [46], [65]. Tuy nhiên về sau, một số tác giả đã nhận thấy những hạn chế của phiên bản gốc về độ dài và phương án lựa chọn trả lời.
Vì vậy phiên bản ngắn hơn đã được tạo ra để giúp quá trình quản lý các khách hàng nói lắp nhanh và dễ dàng thực hiện. Trong đó, thang đo nỗi sợ đánh giá tiêu cực phiên bản rút ngọn (Brief Fear of Negative Evaluation, BFNE) với 12 câu [41] được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu về lo âu xã hội [42], [56], [66]. Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có một thang đo nào được phát triển và xác thực tính phù hợp để có thể sử dụng trong đánh giá các đặc điểm về lo âu xã hội ở người nói lắp. Vì vậy, nhu cầu về một thang đo được đánh giá thuộc tính để có thể sử dụng cho người nói lắp tại Việt Nam là cần thiết, không chỉ cho nghiên cứu khoa học mà còn cho thực tế lâm sàng đánh giá và can thiệp trên nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Thang đo nỗi sợ đánh giá tiêu cực phiên bản rút gọn (BFNE) tiếng Việt có tính tin cậy và giá trị trong đo lường sự lo âu liên quan đến nói lắp cho người lớn nói lắp tại Việt Nam không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá tính tin cậy nội bộ và tính tin cậy lặp lại của thang đo BFNE phiên bản tiếng Việt khi sử dụng cho người lớn nói lắp tại Việt Nam. Đánh giá tính giá trị nội dung và tính giá trị cấu trúc của thang đo BFNE phiên bản tiếng Việt khi sử dụng cho người lớn nói lắp tại Việt Nam. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về nói lắp Nói lắp là một rối loạn lời nói xảy ra ở mọi lứa tuổi, gây ra bởi sự rối loạn lưu loát và thời gian bình thường của lời nói [53]. Trong các định nghĩa về nói lắp, định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là định nghĩa được biết đến phổ biến nhất: “Nói lắp là các rối loạn trong nhịp điệu của lời nói mà trong đó các cá nhân biết chính xác những điều họ muốn nói nhưng tại thời điểm đó lại không thể nói ra được bởi vì một sự lặp lại, kéo dài, ngưng lại của âm thanh không có chủ ý” [52]. Trong cẩm nang thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần (DSM-5), tên chính thức của nói lắp là Rối loạn lưu loát khởi phát thời thơ ấu (Childhood-Onset Fluency Disorder). Trong đó, rối loạn này được liệt kê như là một rối loạn phát triển thần kinh nhưng cũng có thể gây ra chứng lo âu.
Sự thay đổi về tiêu chuẩn chẩn đoán nói lắp trong DSM-5 so với phiên bản trước đó là sự thêm vào của chứng lo âu và sự né tránh [3]. Tiêu chuẩn chẩn đoán nói lắp theo DSM-5 được mô tả trong Bảng 1. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng được khuyến cáo là phương pháp dựa trên sự đồng thuận, có thể là sự đồng thuận giữa hai nhà lâm sàng, hoặc có thể giữa nhà lâm sàng với bố hoặc mẹ [52]. Nhìn chung, đối với nói lắp kéo dài ở người lớn, người nói lắp hoàn toàn nhận thức được nó.
Vì vậy khi người nói lắp tìm kiếm sự giúp đỡ của nhà lâm sàng, gần như luôn luôn đúng rằng họ có nói lắp. Nhiệm vụ của nhà lâm sàng là chẩn đoán xác định lại nói lắp và phân biệt với một số rối loạn khác. Tiêu chuẩn chẩn đoán nói lắp theo DSM-5 Rối loạn lƣu loát khởi phát thời thơ ấu (nói lắp) A. Rối loạn lưu loát khởi phát thời thơ ấu, còn được gọi là nói lắp, được chẩn đoán khi sự rối loạn trong mẫu thời gian và sự lưu loát bình thường của lời nói không phù hợp với tuổi và kỹ năng ngôn ngữ của một người, kéo dài theo thời gian (trong phần lớn trường hợp) và được đặc trưng bởi tần xuất và sự xuất hiện của một hoặc nhiều yếu tố sau đây 1.
Sự lặp lại âm thanh và âm tiết 2. Sự kéo dài âm thanh của phụ âm cũng như nguyên âm 3. Các từ bị phá vỡ cấu trúc (ví dụ: ngưng lại giữa một từ) 4. Sự ngưng lại yên lặng hoặc có thể nghe thấy được (ví dụ: ngưng lại trong lời nói) 5.
Từ được nói ra với sự căng thẳng về thể chất quá mức 7. Lặp lại từ đơn âm tiết (ví dụ: tôi-tôi-tôi-tôi nhìn thấy anh ấy) 8. Lo âu về các triệu chứng dẫn tới việc né tránh liên quan tới các tình huống nói chuyện B. Những khó khăn về tính lưu loát lời nói dẫn tới việc hạn chế chức năng trong giao tiếp hiệu quả, tham gia xã hội, kết quả học tập hoặc thành thích nghề nghiệp, đơn lẻ hoặc kết hợp.
Loại trừ các rối loạn lưu loát có liên quan đến những tổn thương do thần kinh (như đột quỵ, khối u, chấn thương) hoặc các rối loạn chuyển dạng và giả bệnh. Rối loạn lưu loát có thể xảy ra nguyên phát hoặc đồng xảy ra với các rối loạn giao tiếp khác hoặc bất kỳ rối loạn nào khác không được loại trừ D. Triệu chứng phải hiện diện vào thời thơ ấu (nhưng có thể không biểu hiện đầy đủ cho đến khi lời nói, ngôn ngữ, giao tiếp hoặc nhu cầu xã hội vượt quá khả năng bị giới hạn) “Nguồn: Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA), 2013, trang 45-56” [3]. 5 Mô hình ngôn ngữ dữ liệu hành vi của Lidcombe [62] được phát triển để mô tả các hành vi của nói lắp và được áp dụng cho các khách hàng ở mọi lứa tuổi.
Mô hình này được minh họa ở Hình 1. trình bày các hành vi nói lắp thành 3 loại chính: cử động lặp lại, tư thế cố định và hành vi dư thừa [52]. Có ba loại cử động lặp lại là lặp lại âm tiết không hoàn toàn (nghĩa là lặp lại một phần của âm tiết), ví dụ “ma-ma-ma-ma-ma-ma-mang khẩu trang”, “khô-khô- khô-khô-khô-không hút thuốc”, lặp lại âm tiết, ví dụ “khi-khi-khi-khi ra đường”, “không-không-không-không tụ tập” và lặp lại nhiều âm tiết, ví dụ “tôi nghĩ là-tôi nghĩ là-tôi nghĩ là anh nên làm việc”, “tôi là-tôi là-tôi là công nhân” [52]. Tư thế cố định là một sự bất thường khi một số yếu tố không cử động trong một thời gian khi nói chuyện.
Trong tư thế cố định, những bộ phận mà bình thường được nhìn thấy có cử động khi nói như hàm, môi, lưỡi ngưng hoạt động. Đặc điểm này bao gồm hai loại là luồng hơi nghe được, là điều mà các nhà lâm sàng thường gọi là “sự kéo dài” vì đó là cách âm thanh bị kéo dài ra khi một người đang nói bị kéo dài ra và không có luồng hơi nghe được, là điều mà các nhà lâm sàng thường gọi là “chặn” vì chúng đem lại ấn tượng rằng có thứ gì đó đang chặn lời nói lại [52], [51]. Các hành vi dư thừa thường gặp là các vấn đề hành vi của nói lắp có thể quan sát được bao gồm các hành vi có lời được gọi là các từ xen vào, ví dụ như “à ừ-à ừ- ùm ùm” và các hành vi không lời như là mím môi, nín thở, nháy mắt, nhíu mày, nhăn mặt [52]. Từ xen vào cũng là một phần của lời nói bình thường nhưng ở nói lắp, chúng được sử dụng quá nhiều, nằm ngoài ý định của người nói và gây gián đoạn dòng chảy của lời nói [52].
6 NÓI LẮP Cử động lặp lại Tƣ thế cố định Hành vi dƣ thừa Lặp một Lặp Lặp Luồng Không có Có Không phần âm âm nhiều hơi nghe luồng hơi lời lời tiết tiết âm tiết được nghe được “Nguồn: Onslow, 2020, trang 10” [52] Hình 1. Mô hình ngôn ngữ dữ liệu hành vi Lidcombe Cho đến nay chưa có sự đồng thuận về bản chất sinh lý bệnh của nói lắp. Các nghiên cứu về những nguyên nhân cảm giác, vận động, nhận thức hầu hết cho kết quả không nhất quán [4]. Hiện tại chỉ có sự thống nhất ở các nghiên cứu về bất thường trong hệ thống phản hồi thính giác ở những người nói lắp [4].