ĐẶT VẤN ĐỀ Nói lắp là một rối loạn lời nói ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của một người [14], [46]. Nói lắp với tỷ lệ hiện mắc ước tính 1% dân số người lớn trên thế giới [7]. Người nói lắp gặp phải những phản ứng tiêu cực đối với nói lắp như khó giao tiếp trong các tình huống quan trọng, giảm sự hài lòng cuộc sống và khả năng đạt được mục tiêu trong cuộc sống [81]. Nói lắp còn ảnh hưởng đến công việc bao gồm cơ hội có được việc làm, lựa chọn nghề nghiệp, hiệu suất và sự thăng tiến [44], [45].
Bên cạnh đó, nói lắp còn ảnh hưởng đến tình trạng tài chính khi người nói lắp làm những công việc có thu nhập thấp trong xã hội [8]. Không những thế, nói lắp còn có thể khiến người nói lắp bị ảnh hưởng tâm lý, trầm cảm, hay rối loạn nhân cách [50], [59]. Thái độ tiêu cực của những người xung quanh như trêu chọc, kì thị làm ảnh hưởng nói lắp càng nặng nề hơn [82]. Nói lắp ở mức độ từ trung bình đến nặng có tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống [46].
Nhiều nghiên cứu định tính đã mô tả được những trải nghiệm sống của người lớn nói lắp lên nhiều khía cạnh, trong đó có những trải nghiệm tích cực và tiêu cực gây ảnh hưởng đến kết quả học tập, mối quan hệ giáo viên và bạn học, công việc hay tự nhận thức về hình ảnh bản thân [18], [45], [70]. Mặc dù mỗi người có những trải nghiệm khác nhau nhưng các nghiên cứu đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của nói lắp đến cuộc sống trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, những kết quả này có thể không đúng với người nói lắp ở Việt Nam, do những đặc tính văn hoá hay môi trường sống của người Việt Nam khác so với nước ngoài. Bên cạnh đó cho tới thời điểm hiện tại, ở Việt Nam vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu mô tả trải nghiệm của người lớn nói lắp và ảnh hưởng của nói lắp đối với cuộc sống của họ.
Do đó, mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu những trải nghiệm và ảnh hưởng của nói lắp ở người lớn nói lắp tại Việt Nam. Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để có thể khám phá được trải nghiệm sống của người lớn nói lắp, gợi ra sự hiểu biết cho người đọc và cung cấp cái nhìn sâu sắc, chân thật về cuộc sống cuả những người nói lắp một cách toàn diện [70]. Hiểu được trải nghiệm của người lớn nói lắp trong cuộc sống hàng ngày rất hữu ích trong việc áp dụng những phương pháp điều trị thích hợp. cho người Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.
Không chỉ vậy, nghiên cứu còn cung cấp thông tin và dữ liệu cho các nghiên cứu khác trong cộng đồng nói lắp trong tương lai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chính của nghiên cứu này là: 1. Tìm hiểu những trải nghiệm về nói lắp của người lớn nói lắp ở Việt Nam. Tìm hiểu ảnh hưởng của nói lắp đến cuộc sống người lớn nói lắp ở Việt Nam.
Tìm hiểu những cơ hội giúp người nói lắp khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của nói lắp. Định nghĩa nói lắp Hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh cho nói lắp. Nói lắp được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng định nghĩa theo triệu chứng của Wingate năm 1964 được sử dụng rộng rãi nhất và hữu ích nhất về mặt lâm sàng. “ Thuật ngữ “ nói lắp” có nghĩa là: 1.
(a) Sự phá vỡ tình trạng lưu loát của diễn đạt bằng lời nói, (b) đặc trưng là sự không chủ ý, có thể nghe được hoặc im lặng, lặp lại hay kéo dài trong việc trình bày các yếu tố của lời nói ngắn, gọi là: nhiều âm, nhiều âm tiết và nhiều từ của một âm tiết. Sự phá vỡ (c) này thường xảy ra thường xuyên hoặc là đặc điểm nổi bật và (d) không thể kiểm soát được một cách dễ dàng. Đôi khi sự phá vỡ (e) đi kèm với các hoạt động phụ bao gồm bộ máy phát ra lời nói, có liên quan hoặc không liên quan cấu trúc cơ thể, hoặc các cách nói khuôn mẫu. Những hoạt động này nhìn bên ngoài có vẻ như đang cố gắng để tạo ra lời nói.
Ngoài ra, không phải thường xuyên (f) có dấu hiệu hoặc báo cáo về sự hiện diện của trạng thái cảm xúc, từ tình trạng chung là "phấn khích" hoặc "căng thẳng" đến những cảm xúc cụ thể hơn có tính chất tiêu cực như sợ hãi, xấu hổ, kích thích (g). Nguồn gốc của nói lắp là sự không phối hợp biểu hiện đến cơ chế tạo ra lời nói ngoại biên; nguyên nhân cuối cùng hiện nay chưa được biết đến và có thể rất phức tạp” [79]. Phân loại nói lắp Nói lắp được phân loại là nói lắp phát triển, nói lắp thần kinh (mắc phải) hoặc nói lắp tâm lý [63]. Nói lắp phát triển là dạng phổ biến nhất, chiếm hơn 80% các trường hợp nói lắp và bắt đầu ở các trẻ từ ba đến tám tuổi [48].
Khoảng 75% trẻ mẫu giáo mắc chứng nói lắp phát triển tự khỏi trong vòng bốn năm [80]. Một số khác thì kéo dài đến tuổi trưởng thành được gọi là nói lắp phát triển mạn tính [48]. Nói lắp thần kinh hay mắc phải xảy ra sau một tổn thương não có thể xác định, ví dụ như đột. quỵ, xuất huyết nội sọ hoặc chấn thương đầu.
Đó là một hiện tượng hiếm gặp đã được quan sát thấy sau các tổn thương ở nhiều vùng ở não [17], [35]. Nói lắp do tâm lý liên quan đến việc lặp lại nhanh chóng các âm thanh ban đầu. Nó thường xảy ra ở người lớn có tiền sử các vấn đề tâm thần sau một sự kiện tâm lý hoặc chấn thương tình cảm hoặc có thể không có căn nguyên nào khác [49]. Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu được chọn là người lớn nói lắp phát triển mạn tính để thấy được trải nghiệm sống của họ xuyên suốt qua quá trình trưởng thành.
Mô tả tình trạng nói lắp Tình trạng nói lắp cũng được mô tả theo nhiều cách khác nhau, từ những phân loại ban đầu của Johnson nói lắp trong thời thơ ấu: lặp lại từ, lặp lại âm thanh/ âm tiết, lặp lại cụm từ, cụm từ không hoàn toàn, thán từ, sửa đổi, ngắt quãng và kéo dài [43]. Càng về sau càng có nhiều cách để mô tả tình trạng nói lắp hơn như mô tả của dữ liệu ngôn ngữ hành vi của Lidcombe khá rõ ràng, phổ biến vì nó được sử dụng cho những người nói lắp ở mọi lứa tuổi và nó mô tả các hành vi nói lắp dễ dàng quan sát được. Hành vi nói lắp được phân loại theo ba loại chính: chuyển động lặp đi lặp lại, vị thế cố định và những hành vi dư thừa (xem bảng 1. Đặc điểm dịch tễ học nói lắp 1.
Dịch tễ học Tỷ lệ mắc bệnh nói lắp có sự thay đổi khác nhau trong một số nghiên cứu. Nghiên cứu Craig và cộng sự năm 2002 cho tỷ lệ mắc bệnh trong suốt cuộc đời rất thấp là 2.16%, tuy nhiên do những hạn chế trong nghiên cứu nên chính tác giả cho biết nghiên cứu này chỉ có thể cung cấp một giới hạn thấp hơn về nguy cơ nói lắp [22]. Ở Đan Mạch, Månsson năm 2000 đã nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh nói lắp ở hòn đảo Bornholm với dân số khoảng 40.000 người với tỷ lệ mắc bệnh kết quả là 5,09% [51]. Nghiên cứu tiền cứu của Reilly và cộng sự năm 2009 trên cỡ mẫu lớn là 1619 trẻ ở cộng đồng bang Victoria ở Úc cho kết quả với tỷ lệ mắc bệnh 8.
Tuy nhiên, Bloodstein và Bernstein Ratner năm 2008 đã kết luận rằng tỷ lệ mắc bệnh nói lắp là cao tới 10% [7]. Cho nên, Yairi và cộng sự năm 2013 đã kết luận tỷ. lệ mắc bệnh 5% được đưa ra làm quy ước, nhưng tỷ lệ 8% cũng được cân nhắc đến trong nhiều nghiên cứu gần đây [80]. Phân loại tình trạng nói lắp theo dữ liệu ngôn ngữ hành vi của Lidcombe [74].
Chuyển động lặp đi lặp lại Sự lặp lại âm tiết Ví dụ: “ khi- khi-khi- khi”, “ nếu-nếu-nếu-nếu-nếu”, “không-không-không-không”. Sự lặp lại một phần âm tiết Ví dụ: “ c-c-c-c-c-cá” hay “ ch-ch-ch-ch-ch-chó” Sự lặp lại nhiều âm tiết Ví dụ: “ tôi đã- tôi đã- tôi đã- tôi đã hy vọng”, “ tôi nghĩ rằng- tôi nghĩ rằng - tôi nghĩ rằng - tôi nghĩ rằng”. Tư thế cố định là sự bất Tư thế cố định có luồng khí âm thanh có thể nghe thường của việc không cử thấy được như phát âm kéo dài. Ví dụ: “/s/” được kéo động khi nói như miệng, dài.
hàm và môi ngừng chuyển Không có luồng hơi có thể nghe được như bị tắc động. Có thể ngừng chuyển động trong vài giây hoặc có khi lên đến nửa phút dẫn đến sự gián đoạn trong giao tiếp. Hành vi dư thừa Bằng lời nói: xen kẽ bời lời nói dư thừa Ví dụ: “à” “ừm” “ ờ”. Hành vi dư thừa phi ngôn ngữ khác: Các cử động nén môi, há miệng, nín thở, chớp mắt, lỗ mũi giãn ra, nhướn mày, cử động mặt, đầu và thân, luồng khí hô hấp, tiếng lẩm bẩm và những tiếng ồn không phù hợp khác hay sự dao động bất thường về cao độ và âm lượng.
Các hành vi dư thừa phi ngôn ngữ này khác nhau giữa các cá thể nói lắp khác nhau. Tỷ lệ hiện mắc nói lắp khác nhau giữa các quốc gia và thời điểm nghiên cứu. Ở Úc, Craig và cộng sự năm 2002 đã đưa ra tỷ lệ hiện mắc phổ biến chung là 0,72% với sự thay đổi theo nhóm tuổi, 1,4% ở trẻ em từ 2–5 tuổi; 1,44% ở lứa tuổi 6-10; lứa tuổi 11–20 giảm xuống còn 0,53%; với độ tuổi 21–50 tăng lên 0,78%; tuổi 51+ giảm xuống 0,37% [22]. Nghiên cứu này khác biệt vì là nghiên cứu duy nhất cho đến nay, bao gồm toàn bộ độ tuổi từ 1- 99 tuổi.
Tỷ lệ hiện mắc nói lắp ở châu Âu đã được thực hiện tại Bỉ bởi Van Borsel và cộng sự năm 2006 với tỷ lệ hiện mắc giảm có hệ thống theo nhóm tuổi: 0,78% ở lứa tuổi 6–10, 0,53% ở lứa tuổi 11–15 và 0,27% ở lứa tuổi 16–20 [78]. Tỷ lệ hiện mắc ở lứa tuổi 5-18 là 0,90 %, gần với mức 1% theo tổng kết của Bloodstein và Bernstein Ratner năm 2008 [7]. Ở Hoa Kỳ, Boyle năm 2011 đưa ra tỷ lệ nói lắp nói chung là 1,60 %; tỷ lệ này là 1,99 % ở lứa tuổi 3–10 và 1,15 % ở độ tuổi 11–17 [10].