phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có 3 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng Chƣơng 2: Các yếu tố ảnh hƣởng đến tính dễ bị tổn thƣơng lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng Chƣơng 3: Tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu lĩnh vực trồng trọt huyện Hòa Vang, Đà Nẵng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nang CHƢƠNG 1: PHƢƠNGPHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG 1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu 1. Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương(TDBTT) Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua. Đã có nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng.
Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thƣơng giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau và đôi khi mâu thuẫn nên khó có thể phân loại thành một hệ thống thống nhất. Trong nỗ lực để phân loại các thuật ngữ này, Adger (2006) [22] đã thành công và chỉ ra rằng sự đa dạng trong khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng phản ánh “tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc biểu hiện tại những nơi nhất định trong những thời điểm nhất định”. Điều đó nghĩa là tính dễ bị tổn thƣơng sẽ thay đổi phụ thuộc bối cảnh cụ thể, vùng cụ thể, thời điểm cụ thể và quan điểm, mục tiêu của ngƣời đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng.1: Phân loại các cách tiếp cận về khái niệm Tính dễ bị tổn thƣơng Cách tiếp cận về Mục tiêu khái niệm Tính dễ bị tổn thƣơng Các nghiên cứu trƣớc đây (trƣớc 1999) Tính dễ bị tổn thƣơng về Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc phát triển để giải thích tổn nạn đói và thiếu an ninh thƣơng về nạn đói do thiếu lƣơng thực hoặc mùa màng thất lƣơng thực bát, và để mô tả tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ kết quả của việc thiếu quyền lợi và năng lực. Tính dễ bị tổn thƣơng về Xác định và dự đoán nhóm đối tƣợng, khu vực dễ bị tổn hiểm họa tự nhiên thƣơng thông qua phân tích hậu quả và khả năng xảy ra hiểm họa tự nhiên.
Sinh thái học nhân văn Phân tích một cách hệ thống về những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tính dễ bị tổn thƣơng đối với hiểm họa tự nhiên với nỗ lực giải thích vì sao nhóm đối tƣợng ngƣời nghèo và yếu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nang thế là dễ bị tổn thƣơng nhất trƣớc hiểm họa tự nhiên. Mô hình “Hiểm họa tự Phát triển hoàn thiện thêm mô hình sinh thái học nhân văn nhiên - Áp lực và giải nhằm liên kết chặt chẽ rủi ro hiểm họa với các yếu tố kinh tế, tỏa” chính trị, xã hội và quản lý thiên tai và các can thiệp, thể hiện hiểm họa là áp lực và cũng là tính chất của tính dễ bị tổn thƣơngvề xã hội và vật lý Các nghiên cứu sau này (sau 1999) Tính dễ bị tổn thƣơng về Giải thích tính dễ bị tổn thƣơng về xã hội và lý sinh (các yếu BĐKH và các dao động tố chính) trƣớc các rủi ro tƣơng lai bằng nhiều phƣơng pháp khí hậu nghiên cứu đã đƣợc áp dụng trƣớc đó. Sinh kế bền vững và tính Giải thích vì sao một số bộ phận dân số trở nên nghèo hoặc dễ bị tổn thƣơng về tiếp tục nghèo bằng cách phân tích mối quan hệ giữa các yếu nghèo đói tố kinh tế và xã hội. Tính dễ bị tổn thƣơng Giải thích tính dễ bị tổn thƣơng của hai hệ thống có mối quan của hệ thống sinh thái xã hệ chặt chẽ: con ngƣời và môi trƣờng.
hội Nguồn: Adger (2006) Nhìn chung, có thể chia thành 3 trƣờng pháiquan điểm chính về tính dễ bị tổn thƣơng là: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa vật lý, mức độ thiệt hại và các tác động; (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thƣơng liên quan đến xã hội; (3) Kết hợp cả hai phƣơng pháp và xác định tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng nhƣ những tác động thích ứng của xã hội [7]. Nhƣ vậy, theo các định nghĩa đã có trƣớc, thì TDBTT gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn thất, suy thoái của (hệ thống) và 2) mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối tƣợng bị tổn thƣơng. Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã đƣợc đề cập, thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới đƣợc dựa trên các ý niệm và phƣơng pháp nghiên cứu trƣớc đây về TDBTT, nhƣng tiến bộ hơn các nghiên cứu trƣớc trong việc phát triển những phân tích về TDBTT một cách đa ngành, đa hệ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nang thống, đa góc độ và đa quy mô. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH đã đƣợc đƣa ra từ nhiều nghiên cứu, nhƣng đƣợc xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), theo đó tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: IPCC, 1992[37] định nghĩa “Tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà một hệ thống không thể đối phó đƣợc với tác động của BĐKH và nƣớc biển dâng”.
IPCC trong báo cáo lần thứ 2 SAR, 1996[38] định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thƣơng là quy mô mà BĐKH có thể gây thiệt hại hoặc làm tổn hại đến một hệ thống, nó phụ thuộc không chỉ vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu mới”. Trong báo cáo lần thứ 3 TAR, 2001[39], IPCC định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thƣơng tới BĐKH là mức độmà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hƣởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tính dễ bị tổn thƣơng là hàm của độ nhạy cảm (mức độ mà một hệ thống phản ứng với một thay đổi về khí hậu, bao gồm tác động có lợi hay có hại), khả năng thích ứng (mức độ mà hệ thống điều chỉnh các thiệt hại tiềm năng hay tận dụng các cơ hội thuận lợi mà thay đổi về khí hậu mang lại) và mức độ mà hệ thống tiếp xúc với các hiểm họa khí hậu”. Điểm nổi bật trong định nghĩa của IPCC là định nghĩa này tích hợp các yếu tố hiểm họa, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng.
Theo định nghĩa này, một hệ thống có khả năng tổn thƣơng cao là một hệ thống rất nhạy cảm với các thay đổi nhỏ của khí hậu. Năm 2007, trong báo cáo lần thứ 4 của IPCC[40], định nghĩa tính dễ bị tổn thƣơng và các yếu tố thành phần so với các định nghĩa trƣớc đó đã đƣợc làm rõ hơn, theo đó “Tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn thƣơng và không thể đối phó đƣợc, với tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm cả những dao động và hiện tƣợng khí hậu cực đoan. Tính dễ bị tổn thƣơng là hàm của đặc tính, cƣờng độ và tỉ lệ của biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống bị phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nó”. Nhƣ vây, theo định nghĩa này, TDBTT gồm 3 hợp phần: mức độ phơi bày, mức độ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nang nhạy cảm và khả năng thích ứng.
Mức độ phơi bày là mức độ mà hệ thống bị phơi bàyvới các biến đổi và dao động khí hậu quan trọng. Mức độ nhạy cảm là mức độ mà hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) có lợi cũng nhƣ bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đến khí hậu(IPCC, 2007) [40].Khả năng thích ứng là khả năng của một hệ thống có thể điều chỉnh thành phần hoặc chức năng của nó trƣớc BĐKH (bao gồm các dao động và cực đoan khí hậu), nhằm mục đích (i) giảm nguy cơ bị tổn thƣơng, (ii) tận dụng cơ hội do môi trƣờng thay đổi đem lại, và/hoặc (iii) ứng phó với các hậu quả xảy ra(IPCC (2007) [40]. Các hợp phần của tính dễ bị tổn thƣơngbao gồm: TDBTT=f(Mức độ phơi bày, Độ nhạy cảm, Khả năng thích ứng) Trong đó: Tác động tiềm năng (potential impact) = Mức độ phơi bày(exposure) + Độ nhạy cảm (sensitivity) Định nghĩa này của IPCC thể hiện rằng một hệ thống càng bị coi là dễ bị tổn thƣơng nếu nó phơi bày và nhạy cảm càng nhiều với BĐKHvà khả năng thích ứng càng thấp, và ngƣợc lại, hệ thống ít tổn thƣơng hơn nếu mức độ phơi bày và nhạy cảm thấp nhƣng khả năng thích ứng cao.Trong đó, vai trò của khả năng thích ứng rất quan trọng. Khả năng thích ứng của hệ thống càng cao thì hệ thống đó càng có khả năng điều chỉnh trƣớc dao động và BĐKH, do đó càng tổn thƣơng ít hơn[40].
Căn cứ theo định nghĩa này, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2008)[1] đã đƣa ra định nghĩa trong Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKHnhƣ sau “Khả năng (tính) dễ bị tổn thƣơng do tác động của BĐKHlà mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH”. Trong báo cáo lần thứ 5 năm 2013, IPCC định nghĩa “Tính dễ bị tổn thƣơng là xu hƣớng hay khuynh hƣớng bị tác động bất lợi. Tính dễ bị tổn thƣơng bao gồm các khái niệm và các yếu tố bao gồm độ nhạy cảm hoặc nhạy cảm với tổn hại và thiếu năng lực để đối phó và thích ứng”. Trong báo cáo này, tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc xác định trong từng bối cảnh cụ thể, tƣơng tác với hiểm họa và mức độ phơi bày trƣớc hiểm họa tạo nên các rủi ro.
Tính dễ bị tổn thƣơng là một tậphợp các yếu tố từ bối cảnh văn hóa, xã hội, môi 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nang trƣờng, chính trị và kinh tế [41].