CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tính bền vững Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm về tính bền vững liên quan tới nhiều lĩnh vực, nghành nghề khác nhau, tuy nhiên chưa có một khái niệm liên ngành và chung nhất, được chấp nhận rộng rãi về tính bền vững Tính bền vững, theo khái niệm được đưa ra bởi Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2013a) liên quan tới nông nghiệp, có nghĩa là đảm bảo phúc lợi của con người (và đạt được an ninh lương thực toàn cầu) mà không làm suy giảm hoặc giảm dần khả năng của các hệ sinh thái của trái đất để hỗ trợ sự sống hoặc làm tổn hại đến hạnh phúc của loài khác. Theo Mai Trọng Nhuận, tính bền vững là giá trị cốt lõi của một hệ thống lợi ích cần được duy trì theo thời gian, là sức chống chịu của các hệ thống - khả năng kéo dài của quá trình.
Tính bền vững là duy trì các quá trình sản sinh, sản xuất, đảm bảo i) không gây suy thoái, nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên; ii) thay thế nguồn tài nguyên mà con người sử dụng bởi các nguồn tài nguyên có giá trị tương đương hoặc cao hơn cho cùng hoạt động mà không làm suy thoái, gây nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên. Vòng tuần hoàn tiếp cận tính bền vững gồm 4 hợp phần bền vững thuộc kinh tế, sinh thái, chính trị và văn hóa. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình 1. Vòng tuần hoàn tiếp cận tính bền vững Nguồn: Mai Trọng Nhuận (Bài giảng, 2017) Nông nghiệp bền vững theo định nghĩa của của TAC/CGIAR (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp): “Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên nhiên nhiên” (Lê Viết Ly và cs, 2009).
Chuỗi giá trị nông sản bền vững: được định nghĩa bởi FAO là chuỗi đầy đủ các trang trại, các công ty và các hoạt động phối hợp liên tục làm tăng giá trị của họ, từ việc cung cấp các nguồn nguyên liệu nông nghiệp thô và chuyển hóa chúng vào các sản phẩm nông nghiệp được bán tới những người tiêu dùng cuối và thải bỏ sau sử dụng, theo một cách đem lại lợi nhuận xuyên suốt chuỗi giá trị, tạo ra lợi ích rộng đối với xã hội và không làm suy giảm vĩnh viễn các nguồn tài nguyên thiên nhiên (FAO, 2014c). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, tính bền vững chuỗi giá trị nông sản, áp dụng trong Luận văn là tính bền vững chuỗi rau an tòan sẽ đảm bảo các yêu cầu của chuỗi giá trị về việc tạo ra giá trị gia tăng sau mỗi tác nhân trong chuỗi từ hộ nông dân tới đơn vị phân phối đến tay người tiêu dùng – tương ứng với lợi nhuận về kinh tế, đồng thời phải đảm bảo tạo ra các lợi ích với xã hội và không ảnh hưởng tới môi trường và tài nguyên. Khoa học bền vững là ngành khoa học nghiên cứu về tính bền vững, nghiên cứu cơ sở khoa học, giải pháp để đảm bảo tính bền vững. Phát triển bền vững toàn cầu, khu vực, quốc gia, các cơ quan, doanh nghiệp… trên cơ sở nghiên cứu tính bền vững và tương tác giữa 3 hệ thống: Hệ thống trái đất – xã hội và con người - theo bài giảng Mai Trọng Nhuận.
Nghiên cứu trong khoa học bền vững bao gồm: (i) Phát hiện, xác định, đánh giá tính bền vững. (ii) Xác định, phân tích điều kiện đảm bảo tính bền vững, phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu tính bền vững và tương tác giữa 3 hệ thống trái đất – xã hội – con người. (iii) Xác định, so sánh, lựa chọn các giải pháp đảm bảo tính bền vững trên cơ sở nghiên cứu tính bền vững và tương tác giữa 3 hệ thống trái đất – xã hội – con người. (iv) Xác định, so sánh, lựa chọn các giải pháp để phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu tính bền vững và tương tác giữa 3 hệ thống trái đất – xã hội – con người.
(v) Các nội dung khác liên quan. Như vậy, đề tài nghiên cứu Khoa học bền vững “Nghiên cứu đánh giá tính bền vững của các chuỗi sản xuất rau an toàn tại Hà Nội trên cơ sở bộ tiêu chí SAFA” sẽ xác định và đánh giá tính bền vững của các chuỗi giá trị rau an toàn, trên cơ sở kết quả nghiên cứu tính bền vững đánh giá được, tác giả sẽ xác định và lựa chọn các giải pháp đảm bảo và nâng cao tính bền vững cho các chuối rau an toàn lựa chọn nghiên cứu điển hình. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Rau an toàn và rau hữu cơ Rau an toàn theo định nghĩa của WHO là những sản phẩm rau tươi (gồm các loại rau ăn củ, lá, thân, hoa và quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các chất độc, mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn” (Phạm Thị Thùy và cs, 2015).
Theo khái niệm được đưa ra bởi Bộ Nông nghiệp Việt Nam, rau an toàn là sản phẩm rau tươi được sản xuất, sơ chế phù hợp với các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm có trong VietGAP (Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tương đương VietGAP và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm. Dạng chất lượng này gắn với 2 loại chứng nhận theo quyết định 99/2008/QĐ-BNN là chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế rau an toàn và chứng nhận sản xuất, sơ chế rau an toàn theo VietGAP. An toàn thực phẩm là việc đảm bảo để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người (Luật An toàn thực phẩm, 2010). Khái niệm trên bao gồm cả việc bảo đảm an toàn cho thực phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản kể cả các yếu tố nội tại về chất lượng sản phẩm và các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng của sản phẩm (CASRAD, 2017).
Rau hữu cơ: là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất từ quy tình sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là sản xuất theo nguyên tắc được quy định trong tiêu chuẩn của Liên đoàn các Phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ quốc tế (IFOAM), với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất. Đây là phương pháp trồng rau, quả… không được sử dụng hoá chất độc hại trong bảo vệ thực vật để trừ sâu, bệnh, cỏ dại, cũng như các loại phân hoá học, sản xuất chú trọng đến cân bằng hệ sinh thái trong tự nhiên. Theo IFOAM, vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng đều nhằm mục đích duy trì sức khỏe hệ sinh thái và các sinh vật kể cả các sinh vật có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến con người.
Canh tác hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh khai thác quá 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mức gây ô nhiễm môi trường trong tự nhiên, giảm thiểu sử dụng năng lượng và các nguồn không tái sinh để sản xuất ra lương thực mà không gây độc hại, có chất lượng cao, đồng thời đảm bảo, duy trì và làm tăng độ màu mỡ cho đất trong thời gian dài, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, làm đa dạng mùa vụ và các loại vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện của địa phương (Phạm Thị Thùy và cs, 2015). Như vậy, rau hữu cơ cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu về , tuân theo một tiêu chuẩn riêng về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và đảm bảo các yêu cầu về an toàn thực phẩm như rau an toàn. Tóm lại, khái niệm Rau an toàn trong nghiên cứu này được sử dụng cho các loại rau tươi được chứng nhận hoặc công bố đảm bảo các điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm. Hình thức công bố hoặc chứng nhận an toàn có thể dựa trên cơ sở một tiêu chuẩn nội bộ, quốc gia hoặc quốc tế được ban hành phổ biến.
Chuỗi sản xuất - chuỗi giá trị nông sản thực phẩm Chuỗi cung ứng: là toàn bộ mạng lưới các thực thể, đơn vị mà trực tiếp hoặc gián tiếp liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau trong việc phục vụ cùng một đối tượng tiêu thụ hoặc tiêu dùng. Các hoạt động chuỗi cung ứng chuyển đổi từ các thành tố, nguyên liệu thô hay các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào sản phẩm hoàn thiện được chuyển tới người tiêu dùng cuối. Nó bao gồm nhà cung cấp nguyên liệu thô, người sản xuất chuyển đổi từ nguyên liệu tạo thành sản phẩm các kho chứa lưu chứa, các trung tâm phân phối vận chuyển tới các nhà bán lẻ, các nhà bán lẻ cung cấp sản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng. Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến chuyển đổi các tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng.
Trong các hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm được sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào giá trị còn lại có thể tái chế được (CASRAD, 2017). Chuỗi giá trị: là một cơ chế cho phép các nhà sản xuất, người chế biển, người mua và người bán – dù cách nhau về không gian và thời gian- có thể gia tăng giá trị cho các sản phẩm và dịch vụ trong mỗi liên kết, mắt xích họ đóng góp trong chuỗi giá trị tới mắt xích tiếp theo cho tới khi phục vụ người tiêu thụ cuối. Các bên tham gia chính 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong chuỗi giá trị là các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà chế biến, người tiếp thị và người mua. Họ được hỗ trợ bởi nhiều nhà cung cấp dịch vụ tài chính, kinh doanh và kỹ thuật.
Trong một chuỗi giá trị, rất nhiều các hoạt động kinh doanh trong các phân đoạn khác nhau trở nên kết nối và phối hợp mức độ nào đó (UNIDO, 2011).