Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu tiêu dùng rau an toàn tại các đô thị lớn đang gia tăng nhanh chóng khi vấn đề an toàn thực phẩm trở thành mối quan tâm hàng đầu của người dân. Theo các cuộc điều tra thị trường tại khu vực miền Bắc, gần 90% người tiêu dùng đánh giá rau an toàn là thực phẩm quan trọng nhất trong bữa ăn hàng ngày và sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn từ 10% đến 50% so với rau thông thường. Tại Hà Nội, tính đến năm 2014, diện tích canh tác rau an toàn đạt khoảng 4.500 ha trên tổng số 12.000 ha đất trồng rau toàn thành phố, cung ứng sản lượng gần 400.000 tấn nhằm đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu thụ nội địa. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng nông sản ven đô vẫn đối mặt với nhiều rủi ro về ô nhiễm đất, nước, sự thiếu hụt kiểm soát dư lượng hóa chất và tính liên kết lỏng lẻo giữa nông hộ với hệ thống phân phối hiện đại.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tính bền vững của các chuỗi sản xuất rau an toàn tại Hà Nội thông qua việc điều chỉnh và áp dụng bộ tiêu chí SAFA của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO). Đề tài tập trung phân tích thực nghiệm tại hai mô hình tiêu biểu gồm chuỗi rau an toàn của Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp Hòa Bình (quận Hà Đông) và chuỗi rau hữu cơ Bái Thượng thuộc Liên nhóm Thanh Xuân (huyện Sóc Sơn) trong thời gian từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống 87 chỉ thị định lượng, giúp các nhà quản lý đo lường chính xác hiệu quả vận hành và sức chống chịu của chuỗi nông sản theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung đánh giá tính bền vững các hệ thống nông lương (SAFA) do FAO ban hành năm 2013 làm nền tảng lý thuyết cốt lõi, tiếp cận theo tứ diện bốn chiều cạnh gồm Quản trị tốt, Toàn vẹn môi trường, Kinh tế chống chịu và Xã hội phúc lợi. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững (TBVCGTNS) của FAO năm 2014 và mô hình vòng tuần hoàn tính bền vững của Giáo sư Mai Trọng Nhuận nhằm phân tích mối tương tác mật thiết giữa hệ thống sinh thái, xã hội và kinh tế nông hộ.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Rau an toàn theo quy chuẩn VietGAP căn cứ Quyết định 99/2008/QĐ-BNN và Luật An toàn thực phẩm 2010; Rau hữu cơ tuân thủ nguyên tắc IFOAM và Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS); Chuỗi cung ứng nông sản bền vững; và Nông hộ sản xuất quy mô nhỏ với diện tích canh tác trung bình tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 0.32 ha/hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa tài liệu thứ cấp từ Đề án 2083/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, báo cáo đề tài của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp (CASRAD, 2017) với dữ liệu sơ cấp thu thập thực địa. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu nghiên cứu điển hình có chủ đích, khảo sát sâu 2 chuỗi đại diện cho hai phương thức canh tác phổ biến là VietGAP và PGS hữu cơ. Cỡ mẫu sơ cấp bao gồm 2 đại diện lãnh đạo cơ sở đóng vai trò là người cung cấp thông tin chủ chốt, kết hợp khảo sát trực tiếp tại 2 vùng sản xuất, 2 nhà sơ chế và 2 điểm bán lẻ đại diện tại quận Thanh Xuân và quận Hà Đông.

Phương pháp phân tích dựa trên bộ công cụ SAFA-RAT được tác giả tinh giản từ SAFA Smallholders và SAFA Tool, sử dụng hàm tổng trung bình cộng có trọng số để định lượng 87 chỉ thị áp dụng thực tế trên thang điểm 5 cấp độ tương ứng với 5 dải màu chuẩn hóa quốc tế. Phương pháp này được lựa chọn vì tính độc lập tương đối giữa các chỉ thị, triệt tiêu sự thiên lệch chủ quan và cho phép lượng hóa chính xác các khía cạnh định tính trong quản trị nông hộ nhỏ. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017, trong đó áp dụng 30 chỉ thị quan sát thực địa và 38 chỉ thị rà soát hồ sơ minh bạch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả đánh giá định lượng theo bộ chỉ số SAFA-RAT phản ánh sự chênh lệch rõ nét về mức độ bền vững giữa hai mô hình canh tác tại Hà Nội:

Thứ nhất, về chiều cạnh Toàn vẹn môi trường, chuỗi rau hữu cơ Bái Thượng đạt điểm số vượt trội tiệm cận mức tối đa 5/5, nhờ tuân thủ tuyệt đối quy định không sử dụng 100% phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học, đồng thời tái chế 100% phụ phẩm nông nghiệp thành phân ủ hữu cơ vi sinh. Trong khi đó, chuỗi rau an toàn Hòa Bình đạt điểm trung bình khá do vẫn tồn tại nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và lệ thuộc vào phân bón hóa học.

Thứ hai, về khía cạnh Quản trị tốt và Minh bạch, mô hình PGS Bái Thượng thể hiện tính ưu việt với 100% quy trình sản xuất được ghi chép nhật ký đồng ruộng chi tiết và chịu sự giám sát chéo định kỳ hàng tháng từ các nhóm nông dân liên kết. Ngược lại, Hợp tác xã Hòa Bình bộc lộ nhiều điểm yếu trong việc kiểm soát hồ sơ đầu vào và truy xuất nguồn gốc.

Thứ ba, về Kinh tế chống chịu, chỉ có khoảng 10% sản lượng rau của Hợp tác xã Hòa Bình được tiêu thụ ổn định qua kênh siêu thị và cửa hàng tiện ích, còn lại 90% sản lượng phụ thuộc vào thương lái và chợ dân sinh truyền thống. Trái lại, chuỗi Bái Thượng duy trì hợp đồng bao tiêu dài hạn với các chuỗi thực phẩm sạch, giúp giá bán cao hơn từ 30% đến 50% so với thị trường tự do.

Thứ tư, về Xã hội phúc lợi, cả 2 cơ sở đều tạo việc làm ổn định cho hơn 80% lao động nữ tại địa phương với mức thu nhập bình quân đạt từ 4 đến 6 triệu đồng/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự vượt trội của chuỗi rau hữu cơ Bái Thượng bắt nguồn từ cơ chế vận hành có sự tham gia của cộng đồng (PGS), nơi các bên liên quan cùng chia sẻ trách nhiệm kiểm định chất lượng, thay vì phụ thuộc thụ động vào chứng nhận hành chính bên ngoài như mô hình VietGAP diện rộng. Kết quả này tương đồng với các kết luận của TS. Đào Thế Anh năm 2012 và báo cáo của CASRAD năm 2017 về tính dễ bị tổn thương của các hợp tác xã kiểu cũ trước biến động thị trường. Đồng thời, nghiên cứu tái khẳng định phát hiện của tác giả Gayatri Siwi năm 2016 tại Indonesia khi áp dụng SAFA cho thấy quản trị nội bộ chính là đòn bẩy quyết định tính bền vững sinh thái và kinh tế của các nông hộ nhỏ.

Dữ liệu đánh giá của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ mạng nhện đa chiều (Spider Radar Chart) mô tả sự tương phản trên 4 chiều cạnh giữa hai mô hình. Đồng thời, bảng phân hạng theo 5 dải màu tiêu chuẩn từ Xanh đậm (bền vững cao trên 80%), Xanh lá (bền vững trung bình 60% đến 80%), Cam (bền vững thấp 40% đến 60%), Vàng (kém bền vững 20% đến 40%) đến Đỏ (không bền vững dưới 20%) giúp nhà quản lý nhận diện trực tiếp 18 chỉ thị xung yếu cần can thiệp khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao tính bền vững cho các chuỗi sản xuất rau an toàn tại Hà Nội, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược cụ thể sau:

Một là, số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa dữ liệu sản xuất. Ban quản trị các hợp tác xã và Ban điều phối PGS cần triển khai áp dụng 100% nhật ký điện tử và tem mã QR phản hồi nhanh cho từng luống rau, phấn đấu đạt tỷ lệ 100% sản phẩm đưa ra thị trường có mã truy xuất rõ ràng trong giai đoạn 2018 - 2020.

Hai là, tái cơ cấu liên kết chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ chính thức. Doanh nghiệp phân phối phối hợp với Sở Công Thương Hà Nội thiết lập các hợp đồng bao tiêu nông sản dài hạn với mức giá sàn bảo hiểm, nhằm nâng tỷ lệ rau tiêu thụ qua kênh siêu thị và cửa hàng tiện ích từ mức 10% hiện nay lên đạt tối thiểu 45% đến 50% vào năm 2022.

Ba là, đầu tư nâng cấp hạ tầng sơ chế và bảo quản lạnh sau thu hoạch. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội cần hỗ trợ vốn để hiện đại hóa 15 cơ sở sơ chế tập trung với công suất trên 2.000 kg/ngày, tích hợp kho lạnh bảo quản tiêu chuẩn, giúp giảm tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch từ 20% hiện tại xuống dưới mức 8% trong giai đoạn 2018 - 2021.

Bốn là, chuẩn hóa quy trình thâm canh sinh thái và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội cần định kỳ tổ chức tập huấn 2 lần/năm cho nông hộ, chuyển giao kỹ thuật bẫy pheromone sinh học và phân ủ hữu cơ vi sinh, cam kết loại bỏ 100% việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhóm độc cao (nhãn đỏ) trên toàn bộ 16.276,7 ha diện tích quy hoạch rau an toàn đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị dành cho 4 nhóm đối tượng cụ thể sau:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, giám sát quy hoạch 16.276,7 ha vùng rau an toàn của Hà Nội đến năm 2020.

Thứ hai, Ban quản trị các Hợp tác xã nông nghiệp và tổ hợp tác sản xuất: Ứng dụng trực tiếp bảng chỉ số SAFA-RAT với 87 chỉ thị để tự đánh giá nội bộ định kỳ, từ đó nhận diện nút thắt quản lý, cắt giảm lãng phí chi phí đầu vào và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, các doanh nghiệp thu mua, hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ nông sản sạch: Vận dụng khung đánh giá để thẩm định uy tín vùng trồng, xây dựng hợp đồng bao tiêu minh bạch và hoàn thiện quy trình kiểm soát chuỗi cung ứng bền vững.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học bền vững, Quản lý tài nguyên môi trường và Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo phương pháp luận định lượng hóa các tiêu chuẩn quốc tế của FAO vào bối cảnh nông nghiệp nông hộ nhỏ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Bộ tiêu chí SAFA-RAT có điểm gì khác biệt so với tiêu chuẩn VietGAP hiện hành?
Tiêu chuẩn VietGAP chủ yếu tập trung vào các quy chuẩn kỹ thuật canh tác, kiểm soát mối nguy an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường tại thời điểm đánh giá. Trong khi đó, bộ công cụ SAFA-RAT đánh giá toàn diện sức chống chịu của hệ thống thông qua 87 chỉ thị định lượng trên cả 4 chiều cạnh gồm Quản trị, Môi trường, Kinh tế và Xã hội, giúp đo lường hiệu quả sinh kế lâu dài của nông hộ.

Tại sao chuỗi rau hữu cơ Bái Thượng lại đạt điểm bền vững môi trường cao hơn Hợp tác xã Hòa Bình?
Chuỗi Bái Thượng áp dụng nghiêm ngặt tiêu chuẩn hữu cơ PGS và IFOAM, đạt điểm số tiệm cận 5/5 nhờ cam kết 100% không dùng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu nhân tạo. Ngược lại, Hợp tác xã Hòa Bình canh tác theo hướng VietGAP diện rộng vẫn sử dụng một lượng phân bón vô cơ và chịu tác động từ áp lực đô thị hóa xung quanh.

Vì sao tỷ lệ rau an toàn tiêu thụ qua hệ thống siêu thị tại Hà Nội chỉ chiếm khoảng 10%?
Nguyên nhân chủ yếu do các hợp tác xã chưa xây dựng được hợp đồng cung ứng ổn định với doanh nghiệp phân phối lớn, các cơ sở sơ chế mới vận hành 1 phần công suất nhỏ. Do đó, gần 90% lượng rau an toàn vẫn phải tự tiêu thụ qua các kênh chợ dân sinh truyền thống với giá cả bấp bênh.

Làm thế nào để các hợp tác xã nông nghiệp quy mô nhỏ áp dụng bộ công cụ SAFA-RAT?
Ban quản trị hợp tác xã có thể sử dụng bộ câu hỏi khảo sát 87 chỉ thị đã được tinh giản để tự đánh giá định kỳ hàng quý. Kết quả tính điểm trung bình trọng số từ 1 đến 5 sẽ giúp ban lãnh đạo dễ dàng phát hiện các điểm nghẽn về thất thoát kinh tế và thiếu hụt hồ sơ truy xuất.

Tính bền vững xã hội trong chuỗi sản xuất rau an toàn được đo lường qua những chỉ số nào?
Chiều cạnh xã hội phúc lợi được lượng hóa qua các chỉ số về tỷ lệ hơn 80% lao động địa phương là phụ nữ, mức thu nhập công bằng đạt 4 đến 6 triệu đồng/tháng, điều kiện trang bị bảo hộ lao động khi canh tác và khả năng tiếp cận nguồn nước uống an toàn cho người dân.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật cho sự phát triển nông nghiệp Thủ đô:

  • Xây dựng thành công bộ tiêu chí định lượng SAFA-RAT gồm 87 chỉ thị phù hợp với đặc thù nông hộ nhỏ tại Việt Nam.
  • Chứng minh thực nghiệm mô hình hữu cơ PGS Bái Thượng có tính bền vững môi trường và quản trị vượt trội so với mô hình VietGAP Hòa Bình.
  • Nhận diện điểm nghẽn thị trường khi chỉ có khoảng 10% sản lượng rau an toàn tiếp cận được kênh tiêu thụ hiện đại.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về số hóa truy xuất nguồn gốc, hạ tầng sơ chế và liên kết chuỗi giá trị.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2018 - 2025 nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững.

Công trình là cẩm nang hữu ích mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý nông nghiệp liên ngành. Độc giả quan tâm và các cơ quan chuyên môn hãy tham khảo toàn văn đề tài để áp dụng hiệu quả bộ công cụ đánh giá vào thực tiễn sản xuất.