Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á sở hữu tính đa dạng sinh học cao nhờ sự phân hóa khí hậu và địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên. Theo số liệu từ Viện Dược liệu (2002), trong số hơn 7.000 loài thực vật được phát hiện tại 1,6 triệu ha rừng đặc sản, có tới một nửa là lâm sản ngoài gỗ, bao gồm 3.830 loài cây thuốc, 186 loài đặc hữu của Việt Nam và 823 loài đặc hữu của khu vực Đông Dương. Nguồn tài nguyên này gắn liền với lịch sử chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng dân cư thông qua nền y học cổ truyền. Tuy nhiên, trước áp lực nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng, hoạt động khai thác quá mức, thu hái bừa bãi và thiếu các biện pháp bảo vệ tái sinh đang khiến nhiều loài cây dược liệu quý đứng trước nguy cơ cạn kiệt và tuyệt chủng.
Xã Vũ Chấn là một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, có hệ sinh thái rừng trên núi đất và núi đá vôi phong phú. Cộng đồng cư dân tại đây chủ yếu làm nông nghiệp, thu nhập thấp, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại còn nhiều hạn chế do chi phí điều trị Tây y tương đối cao. Việc dựa vào nguồn dược liệu tự nhiên sẵn có, chi phí thấp, hiệu quả điều trị cao đã trở thành tập quán lâu đời của người dân địa phương, đồng thời là nguồn thu nhập phụ trợ quan trọng. Mặc dù vậy, nhận thức của người dân về vai trò sinh thái và kỹ thuật thu hái bền vững vẫn chưa đồng đều. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Bình được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn đó.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật rừng làm thuốc của người Dao tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn cây thuốc tại địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 3 mục tiêu:
- Thống kê được những loài thực vật rừng được người dân tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên khai thác, sử dụng làm thuốc.
- Xác định được nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật rừng làm thuốc.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những loài thực vật rừng được đồng bào dân tộc Dao sử dụng làm thuốc tại các thôn xóm thuộc xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật làm thuốc của hai nhánh Dao đỏ và Dao tiền, các nguyên nhân dẫn đến suy giảm nguồn tài nguyên và các biện pháp bảo tồn, khắc phục. Địa bàn nghiên cứu được triển khai tại xã Vũ Chấn, trong đó khảo sát thực địa và phỏng vấn hộ gia đình được tiến hành tập trung tại 5 xóm người Dao (Khe Rạc, Khe Cái, Cao Sơn, Khe Rịa, Khe Nọi). Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, đề tài tiếp cận khái niệm thực vật làm thuốc là những loài thực vật chứa các chất hóa học có khả năng chữa bệnh cho người và động vật. Giá trị của cây thuốc được cấu thành từ hai yếu tố cốt lõi: vật chất sinh học tự nhiên có trong bản thân loài thực vật và hệ thống tri thức bản địa do con người tích lũy, đúc rút, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Dựa trên tri thức dân gian, cây thuốc được phân chia theo 3 dạng sử dụng:
- Cây thuốc dùng tươi: Chủ yếu là cây thân thảo hoặc lấy lá, thân non dùng đắp, bôi ngoài da, xông hơi, đun nước tắm, uống hoặc dùng như rau ăn (Bò khai, Ngót rừng, Cỏ nhật, Chó đẻ...).
- Cây thuốc dùng khô: Dược liệu được chặt nhỏ, phơi khô hoặc sao qua để sắc uống, ngâm rượu, tán bột (Dứa rừng, Khúc khắc, Nhân trần, Củ bình vôi, Gừng...).
- Cây thuốc vừa dùng khô vừa dùng tươi: Hạt sa nhân, Bò khai, Núc nác...
Bên cạnh đó, đề tài viện dẫn các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, khai thác và phát triển nguồn dược liệu như: Chỉ thị số 210/TTg ngày 06/12/1966 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 21-CP ngày 21/08/1978 của Hội đồng Chính phủ; Nghị quyết số 266-CP ngày 19/10/1978 của Hội đồng Chính phủ. Đồng thời, tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu dược liệu học và thực vật học dân tộc của Đỗ Tất Lợi, Viện Dược liệu (1985, 2002), Võ Văn Chi, Lê Trần Đức (1997), Trần Khắc Bảo (2003), Ninh Khắc Bản (2003), Nguyễn Văn Tập (2006) và Cẩm nang Lâm nghiệp (2006).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm ba phương pháp chính:
- Phương pháp tham khảo, kế thừa tài liệu: Thu thập và tổng hợp tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, bản đồ địa hình xã Vũ Chấn, các báo cáo chuyên ngành về quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và tài liệu y học cổ truyền liên quan.
- Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập các tuyến điều tra cắt ngang qua các sinh cảnh đặc trưng (ven sông suối, bờ ruộng, chân núi, sườn núi, đỉnh núi đá vôi) tại 5 xóm có đông đồng bào người Dao sinh sống (Khe Rạc, Khe Cái, Cao Sơn, Khe Rịa, Khe Nọi). Tại mỗi xóm bố trí 3 tuyến khảo sát: tuyến ven sông suối và bờ ruộng (đi cùng người dân địa phương), tuyến ven rừng và ven chân núi (đi cùng người có kinh nghiệm thu hái), tuyến sườn núi và đỉnh núi (đi cùng thầy lang bản địa có sức khỏe và kinh nghiệm rừng núi). Tuyến điều tra giúp xác định sinh cảnh phân bố, khả năng tái sinh và kiểm chứng thông tin thực vật.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Sử dụng phiếu câu hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn 25 hộ gia đình tại 5 xóm nói trên (bao gồm các hộ chuyên thu hái sử dụng gia đình, hộ khai thác bán thương phẩm và 5 hộ làm nghề bốc thuốc gia truyền - thầy lang). Nội dung phỏng vấn gồm 4 bảng phiếu: Bảng 3.1 (Tình hình sử dụng các loài cây thực vật làm thuốc), Bảng 3.2 (Tình hình thu hái các loài thực vật làm thuốc), Bảng 3.3 (Gây trồng các loài thực vật dùng làm thuốc), Bảng 3.4 (Thu thập bài thuốc cây thuốc dân gian).
Nguồn dữ liệu của khóa luận kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ UBND xã Vũ Chấn (số liệu thống kê đất đai, dân số, kinh tế năm 2013) và dữ liệu sơ cấp thu được từ đợt điều tra thực địa, phỏng vấn 25 hộ dân vào mùa xuân - hè năm 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng đa dạng sinh học cây thuốc tại Việt Nam với 3.830 loài, thực trạng khai thác cạn kiệt nguồn lâm sản ngoài gỗ và điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn của xã miền núi Vũ Chấn. Nội dung phần này xác định mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu lâm sinh - dân tộc học và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo tồn, phát triển dược liệu của cộng đồng bản địa.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan hệ thống hóa cơ sở khoa học về thực vật làm thuốc, các dạng sử dụng (tươi, khô, kết hợp) và tiến trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Tác giả điểm lại các mốc lịch sử nghiên cứu y học cổ truyền từ bản thảo cổ đại (Trung Quốc, Babylon, Ai Cập, Hy Lạp, La Mã) đến các đánh giá của WWF (khoảng 35.000 loài cây làm thuốc toàn cầu) và WHO (80% dân số các nước đang phát triển phụ thuộc vào dược liệu ban đầu).
Về điều kiện khu vực nghiên cứu, văn bản mô tả chi tiết xã Vũ Chấn nằm ở tọa độ 21˚48’53”B, 106˚1’32”Đ, cách trung tâm huyện Võ Nhai 37 km; địa hình chia cắt mạnh bởi núi đá vôi chiếm 72%, độ dốc trên 25°, độ cao trung bình 300 - 500 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 22,4°C, lượng mưa bình quân 1.941 mm/năm (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 90% lượng mưa cả năm), độ ẩm trung bình 83%. Năm 2013, xã có tổng diện tích tự nhiên 7.769 ha (đất lâm nghiệp chiếm 85,1%), dân số gồm 633 hộ với 2.754 nhân khẩu phân bố tại 10 xóm. Đồng bào người Dao gồm hai nhánh Dao đỏ và Dao tiền, sở hữu tri thức dân gian phong phú về y dược học cổ truyền.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương quy định đối tượng nghiên cứu là các loài thực vật rừng làm thuốc của người Dao tại xã Vũ Chấn; thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2015. Chương này trình bày chi tiết thiết kế 6 nội dung nghiên cứu và quy trình thao tác hóa 3 phương pháp: thu thập kế thừa tài liệu; lập tuyến điều tra thực địa 3 cấp độ sinh cảnh tại 5 xóm; điều tra xã hội học bằng phiếu phỏng vấn 25 hộ gia đình theo 4 mẫu bảng hỏi chuyên biệt để thu thập thông tin về loài, bộ phận dùng, công dụng, mùa thu hái, phương thức khai thác và bài thuốc dân gian.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu thực địa thu được:
- Danh mục thành phần loài: Lập danh mục chi tiết 78 loài thực vật rừng làm thuốc được người Dao tại xã Vũ Chấn sử dụng (Bảng 4.1 trong văn bản), ghi nhận đầy đủ tên phổ thông, tên tiếng Dao địa phương, tên khoa học, bộ phận sử dụng, công dụng chữa bệnh, cách khai thác, mùa khai thác, sinh cảnh và tình trạng sử dụng.
- Phân tích dạng sống: Đề tài xác định sự phân bố dạng sống của 78 loài cây thuốc với cơ cấu cụ thể được tổng hợp trong bảng số liệu dưới đây.
| STT | Dạng sống của cây thuốc | Số lượng loài | Tỷ lệ (%) | Các loài điển hình được ghi nhận |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Thân thảo | 21 | 27,0% | Bông mã đề, Thiên niên kiện, Ý dĩ, Địa liền, Kim tiền thảo, Sa nhân, Lá lốt |
| 2 | Dây leo | 18 | 21,7% | Na rừng, Chà kỉng m’hây, Củ mài, Dây cẩm cù, Mướp đắng, Củ bình vôi, Ba kích |
| 3 | Cây bụi | 16 | 20,5% | Đèng hóp, Cỏ nhật, Cây han, Dâm bụt, Dứa rừng, Nhót, Mua candidum |
| 4 | Cây thân gỗ | 12 | 15,4% | Quế, Đằng tòn chuấy, Xà mà sa, Dâu tằm, Thầu dầu tía, Cây gai, Bứa |
| 5 | Cây cỏ | 7 | 10,3% | Ích mẫu, Bảy lá một hoa, Xà sàng, Hương nhu tía, Cúc tần, Chó đẻ, Nhọ nồi |
| 6 | Dạng khác (Ký sinh, Dương xỉ) | 4 | 5,1% | Tầm gửi cây cam, Tầm gửi nghiến, Tầm gửi xoan (ký sinh); Tắc kè đá (dương xỉ) |
| Tổng | Toàn bộ danh mục điều tra | 78 | 100% | Phân bố tại các sinh cảnh rừng tự nhiên, nương rẫy, bờ suối |
- Hiện trạng khai thác: Khảo sát 25 hộ dân tại 5 xóm cho thấy 100% hộ có sử dụng cây thuốc tự nhiên; 18/25 hộ (chiếm 72%) tham gia khai thác cây thuốc đem bán thương phẩm cho tư thương địa phương; có 5 hộ gia đình hành nghề bốc thuốc cổ truyền (thầy lang). Hoạt động khai thác diễn ra chủ yếu bằng công cụ thô sơ (dao, cuốc, tay ngắt) theo các phương thức:
| STT | Phương thức khai thác | Số lượng loài | Tỷ lệ loài (%) | Loài cây tiêu biểu |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngắt hái | 26 | 33,3% | Cỏ nhật, Ngải cứu, Chó đẻ, Chanh rừng, Bứa, Cúc tần, Hương nhu tía, Hoàn ngọc |
| 2 | Đào bới, đào củ rễ | 25 | 32,1% | Địa liền, Bọ mẩy, Củ mài, Khúc khắc, Bách bộ, Bảy lá một hoa, Nghệ, Gừng đỏ |
| 3 | Chặt hái | 13 | 16,7% | Tầm gửi xoan, Đìa chủn, Tầm gửi nghiến, Tầm gửi cây cam, Huyết dụ, Màng tang |
| 4 | Cắt hái | 10 | 12,8% | Dây cẩm cù, Múi phiu trá, Cây đào, Na rừng, Đìa sản |
| 5 | Nhổ, kéo rút | 5 | 6,4% | Lá dong, Nhân trần, Bông mã đề, Ích mẫu, Kim tiền thảo |
- Mùa vụ khai thác: Có tới 66 loài được thu hái quanh năm; một số loài thu hái theo mùa gồm: mùa xuân (Bò khai, Bứa), mùa hè (Kim ngân, Mướp đắng, Xà sàng, Hương nhu tía), mùa hè - thu (Màng tang, Dành dành), đông - xuân (Gừng đỏ), mùa thu (Dứa rừng), thu - đông (Củ mài, Núc nác).
- Bộ phận sử dụng và nhóm bệnh điều trị: Khóa luận ghi nhận 27 loài khai thác lá, 20 loài khai thác thân dây, 25 loài lấy rễ củ, 4 loài lấy quả/hạt, 3 loài lấy cành già, 2 loài lấy vỏ cây và 1 loài lấy ngọn non. Nhóm bệnh được điều trị nhiều nhất gồm: đau đầu - cảm sốt (9 loài), xương khớp - phong thấp - đau lưng (9 loài), đau bụng do lạnh (8 loài), ho (7 loài), giải nhiệt - hạ sốt (6 loài), tiết niệu - sỏi thận (6 loài), đau dạ dày (4 loài), thuốc bổ - tăng lực (4 loài). Một số loài được gây trồng phổ biến trong vườn nhà gồm Gừng đỏ, Diếp cá, Huyết dụ và Lá lốt.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả định lượng cụ thể được văn bản ghi nhận:
- Lập danh mục 78 loài thực vật rừng làm thuốc thuộc nhiều họ thực vật, sinh trưởng tại các dạng lập địa rừng tự nhiên, đồi nương và ven suối tại xã Vũ Chấn.
- Xác lập tỷ lệ cấu trúc dạng sống: cây thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất với 27,0% (21 loài), kế tiếp là dây leo với 21,7% (18 loài), cây bụi chiếm 20,5% (16 loài), cây thân gỗ chiếm 15,4% (12 loài), cây cỏ chiếm 10,3% (7 loài) và các dạng sống đặc thù (ký sinh, dương xỉ) chiếm 5,1% (4 loài).
- Đánh giá định lượng hiện trạng xã hội: 100% hộ dân khảo sát sử dụng cây thuốc phục vụ gia đình; 72% hộ (18/25 hộ) khai thác cây thuốc tự nhiên bán thương phẩm; có 5 thầy lang hoạt động trên địa bàn 5 xóm.
- Ghi nhận đơn giá thương mại tại địa phương của một số loài dược liệu có giá trị cao: Lan kim tuyến tươi có giá 800.000 đồng/kg; Bảy lá một hoa tươi có giá 200.000 - 300.000 đồng/kg củ; Dứa rừng tươi có giá 100.000 - 150.000 đồng/kg quả.
- Thống kê 66 loài khai thác quanh năm, 26 loài thu hái bằng ngắt lá, 25 loài đào củ rễ, chỉ ra nguy cơ suy thoái đối với các loài bị khai thác toàn bộ cơ quan sinh dưỡng dưới đất.
Về giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trực tiếp cho người dân thôn bản và thế hệ trẻ hiểu rõ giá trị sinh thái, kinh tế của cây dược liệu, nâng cao ý thức khai thác gắn liền với bảo vệ tái sinh rừng.
- Thay đổi tập quán thu hái tự nhiên sang nhân giống, di thực gây trồng các loài cây thuốc có nhu cầu sử dụng cao và giá trị kinh tế lớn trong vườn nhà (mở rộng các mô hình đã có như Gừng đỏ, Diếp cá, Huyết dụ, Lá lốt, Sa nhân, Ba kích).
- Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, ban quản lý kiểm lâm và cộng đồng thôn bản trong việc kiểm soát hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ, ngăn ngừa tình trạng khai thác tận diệt của các đối tượng thu mua thương mại.
Đóng góp của khóa luận so với các nghiên cứu trước:
- Đây là công trình điều tra chuyên biệt đầu tiên thống kê có hệ thống nguồn tài nguyên cây thuốc gắn với tri thức bản địa của cộng đồng người Dao (Dao đỏ và Dao tiền) tại xã vùng cao Vũ Chấn, huyện Võ Nhai.
- Thu thập và chuẩn hóa tên gọi địa phương bằng tiếng dân tộc Dao đối với 78 loài thực vật làm thuốc song song với tên khoa học và công dụng chữa bệnh cổ truyền, tạo nguồn dẫn liệu phục vụ bảo tồn nguồn gen thực vật và văn hóa dân tộc tại vùng núi đá vôi tỉnh Thái Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra những hạn chế xuất phát từ điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Danh mục 78 loài mới chỉ phản ánh được một phần thành phần cây thuốc trên địa bàn xã, chưa bao quát toàn bộ do thời gian điều tra ngắn (chỉ kéo dài trong 4 tháng, từ tháng 2 đến tháng 5/2015).
- Chưa thống kê được khối lượng khai thác cụ thể của từng loài dược liệu trong năm do tập quán khai thác của người dân diễn ra tự phát, riêng lẻ, phân tán và không có sự ghi chép lưu trữ.
- Quy mô mẫu phỏng vấn còn hạn chế (25 hộ gia đình tại 5 xóm) so với quy mô 633 hộ toàn xã. Nghiên cứu dừng lại ở mức độ điều tra lâm sinh - xã hội học, chưa có điều kiện phân tích hàm lượng hoạt chất hóa học và dược lý thực nghiệm của các loài cây thuốc thu thập.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:
- Mở rộng phạm vi và thời gian điều tra thực địa trong tất cả các mùa trong năm để bổ sung đầy đủ danh mục thực vật dược liệu của toàn bộ 10 xóm bản trong xã.
- Tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về trữ lượng tự nhiên, mật độ tái sinh và thử nghiệm các mô hình kỹ thuật nhân giống, gây trồng bán tự nhiên dưới tán rừng đối với các loài dược liệu quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa như Bảy lá một hoa, Lan kim tuyến, Bình vôi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Dược liệu học và Dân tộc học khi tiếp cận phương pháp điều tra tri thức bản địa và đánh giá tài nguyên lâm sản ngoài gỗ.
- Cán bộ trạm khuyến nông, kiểm lâm địa bàn và chính quyền cấp xã miền núi trong việc xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ và định hướng phát triển cây dược liệu dưới tán rừng.
- Các nhà nghiên cứu thực vật học dân tộc (ethnobotany) cần dữ liệu đối chiếu về tên gọi bản địa tiếng Dao, bộ phận dùng và bài thuốc dân gian vùng Đông Bắc.
Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là Bảng 4.1 (Danh mục 78 loài thực vật làm thuốc với tên la-tinh, tên tiếng Dao, bộ phận dùng, sinh cảnh) và phương pháp thiết kế 3 tuyến điều tra sinh cảnh kết hợp cùng thầy lang bản địa, cùng hệ thống phiếu phỏng vấn nông hộ (Bảng 3.1 - 3.4).
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận đã thống kê được bao nhiêu loài thực vật rừng làm thuốc tại xã Vũ Chấn và dạng sống nào chiếm ưu thế?
Nghiên cứu đã ghi nhận và thống kê được 78 loài thực vật rừng được người Dao sử dụng làm thuốc. Về dạng sống, cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,0% (21 loài), tiếp theo là dây leo chiếm 21,7% (18 loài), cây bụi chiếm 20,5% (16 loài), cây thân gỗ chiếm 15,4% (12 loài), cây cỏ chiếm 10,3% (7 loài), còn lại là các dạng ký sinh và dương xỉ chiếm 5,1% (4 loài).
Mức độ tham gia khai thác cây thuốc thương phẩm của các hộ dân được khảo sát như thế nào?
Trong số 25 hộ gia đình được phỏng vấn tại 5 xóm (Khe Rạc, Khe Cái, Cao Sơn, Khe Rịa, Khe Nọi), có 100% số hộ sử dụng cây thuốc trong sinh hoạt hàng ngày khi gia đình có người ốm đau; trong đó có 18/25 hộ (chiếm 72%) tham gia khai thác cây thuốc tự nhiên để bán cho thương lái địa phương nhằm tăng thu nhập. Có 5 hộ gia đình hành nghề bốc thuốc cổ truyền (5 thầy lang).
Những loài dược liệu quý nào có giá bán cao được người dân thu hái để bán thương phẩm?
Một số loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao được người dân tìm kiếm thu hái bán cho lái buôn gồm: Lan kim tuyến có giá khoảng 800.000 đồng/kg cây tươi; Dứa rừng có giá từ 100.000 đến 150.000 đồng/kg quả tươi; Cây Bảy lá một hoa có giá từ 200.000 đến 300.000 đồng/kg củ tươi.
Phương thức khai thác cây thuốc chủ yếu của người dân địa phương là gì và có ảnh hưởng thế nào đến tài nguyên?
Người dân thu hái chủ yếu bằng phương thức thủ công với công cụ thô sơ: ngắt hái (26 loài), đào bới củ rễ (25 loài), chặt hái (13 loài), cắt hái (10 loài) và nhổ kéo rút (5 loài). Việc có tới 25 loài bị đào bới rễ củ và 66 loài bị khai thác quanh năm mà không tuân thủ kỹ thuật lâm sinh đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tái sinh tự nhiên của các loài dược liệu.
Những loài cây thuốc nào đã được người dân địa phương chủ động đưa vào trồng trong vườn nhà?
Một số loài cây thuốc có nhu cầu sử dụng thường xuyên đã được các hộ dân di thực từ rừng về trồng phổ biến trong vườn nhà gồm: Gừng đỏ, Diếp cá, Huyết dụ và Lá lốt. Ngoài ra, một số hộ cũng bắt đầu gây trồng Quế, Ba kích và Sa nhân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Bình đã phản ánh chi tiết hiện trạng khai thác và sử dụng 78 loài thực vật rừng làm thuốc của cộng đồng người Dao tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm nguồn dược liệu địa phương với ưu thế thuộc về nhóm cây thân thảo (27,0%) và dây leo (21,7%), đồng thời làm rõ áp lực suy giảm tài nguyên do tập quán khai thác tự phát, thô sơ với 72% hộ khảo sát thu hái đem bán. Kết quả khảo sát thực địa và danh mục loài kèm tri thức bản địa được xác lập trong công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn nguồn gen và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ tại các vùng núi đá vôi phía Bắc.