Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nƣớc nhiệt đới khí hậu ôn hòa, con ngƣời chất phác, thiên nhiên ƣu đãi với nhiều loài động thực vật quý đa dạng về chủng loại, phong phú về số lƣợng. Ngay từ xa xƣa, ngƣời Việt cổ vốn cần cù chịu thƣơng, chịu khó và có đôi bàn tay tài hoa biết tận dụng những nguyên liệu sẵn có ấy để tạo ra nhiều sản phẩm thủ công có giá trị sử dụng cao, mang đậm tính nghệ thuật phục vụ cho đời sống hàng ngày. Trong khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm thủ công ngày càng cao, yêu cầu các sản phẩm đó giá cả phù hợp, bền, đẹp lại không gây tác dụng phụ cho con ngƣời, thân thiện với môi trƣờng. Vì vậy đã có rất nhiều ngƣời chuyển sang làm nghề thủ công, họ truyền nghề cho nhau dần dần hình thành các làng nghề.
Làng nghề chính là một nét đặc trƣng của nông thôn Việt Nam. Khắp mọi miền trên tổ quốc đâu đâu cũng có làng nghề thủ công, mỗi làng nghề lại sản xuất một mặt hàng thủ công truyền thống khác nhau, mang tính đơn nhất. Ta có thể kể ra đây những làng nghề nổi tiếng nhƣ: Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng gốm Chu Đậu, làng thêu Xuân Nẻo (Hải Dƣơng), làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kị (Bắc Ninh),… Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trƣơng hỗ trợ và phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nƣớc, các ngành nghề, n 2 làng nghể tiểu thủ công nghiệp ở nƣớc ta đã và đang đƣợc khôi phục và phát triển. Nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra việc làm thƣờng xuyên cho trên 50% lao động và sử dụng đƣợc phần lớn lao động nông nhàn.[6] Xã Đồng Thịnh có nghề dệt mành cọ từ lâu đời. Làng nghề đã đƣợc mở rộng thêm ra các thôn trong xã. Sự phát triển của làng nghề góp phần tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Nhƣng sự phát triển làng nghề vẫn còn nhiều hạn chế. Hầu hết các làng nghề đều thiếu vốn, các hộ, doanh nghiệp khó tiếp cận với các nguồn vốn vay ƣu đãi, công tác quản lý điều hành ở các cơ sở sản xuất còn nhiều yếu kém, chính sách quảng bá, giới thiệu và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm làng nghề còn yếu và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu, nghề phát triển vẫn mang tính tự phát, chƣa có định hƣớng lâu dài và ổn định các cơ sở làng nghề còn nhỏ bé, sử dụng những công nghệ, thiết bị lạc hậu, công tác đào tạo nghề cho lao động ở các làng nghề chƣa đƣợc chú trọng, chƣa khai thác tốt thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu, công tác đăng ký thƣơng hiệu, nâng cao chất lƣợng sản phẩm còn rất hạn chế, chƣa khai thác tốt tiềm năng du lịch làng nghề, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm không ổn định. Từ những khó khăn trên em đã quyết định chọn đề tài “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề dệt mành cọ tại xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng sản xuất mành cọ trên địa bàn xã Đồng Thịnh. Qua đó, đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm mành cọ, nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của ngƣời dân. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá đƣợc đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu. n 3 - Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển của làng nghề dệt mành cọ trên địa bàn xã Đồng Thịnh.
- Phân tích đƣợc những thuận lợi, khó khăn ảnh hƣởng đến sự phát triển làng nghề dệt mành cọ trên địa bàn xã Đồng Thịnh. - Đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển làng nghề dệt mành cọ trên địa bàn xã Đồng Thịnh nói riêng và huyện Định Hóa nói chung. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao năng lực cũng nhƣ rèn luyện kỹ năng của bản thân, vận dụng những kiến thức đã học đƣợc ở nhà trƣờng vào thực tế, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và kỹ năng tiếp cận các phƣơng pháp nghiên cứu cho bản thân.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phƣơng đƣa ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển làng nghề dệt mành cọ bền vững đồng thời nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân tại xã Đồng Thịnh nói riêng và ngƣời dân nông thôn nói chung. - Đề tài đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phƣơng trong quá trình phát triển làng nghề trong thời gian tới. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học lý luận 2.
Các khái niệm cơ bản: * Nghề truyền thống - Nghề truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng ngƣời hay của xã hội lƣu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử. Truyền thống đƣợc biểu hiện ở hình thức nhƣ truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống.[3] * Làng nghề - Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghệ phụ, chủ yếu đƣợc nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn. Từ những luận điểm và lý luận trên đã có nhiều định nghĩa về làng nghề đƣợc đƣa ra.
Theo Thông tƣ 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”.[1] Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không gian vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống. Ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi nông nghiệp. Trong các làng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và phức tạp. Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông.[7] n 5 * Làng nghề truyền thống - Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) đƣợc khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng nghề nêu trên.
Theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời”.[1] * Nghệ nhân - Là những ngƣời có tay nghề cao trội, đƣợc lao động lành nghề tín nhiệm, suy tôn và đƣợc Nhà nƣớc công nhận.[3] * Lao động lành nghề - Là những lao động đã thông thạo công việc, có kinh nghiệm trong sản xuất, có thể đang làm thợ cả hƣớng dẫn kỹ thuật cho mọi ngƣời. Lao động lành nghề đối lập với lao động chƣa lành nghề.[7] - Tiêu chí công nhận làng nghề Làng nghề đƣợc công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Căn cƣ́ Thông tƣ 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về hƣớng dẫn thƣ̣c hiê ̣n mô ̣t số nô ̣i dung ta ̣i Nghi ̣đinh ̣ số 66/2006/NĐ – CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về công nhâ ̣n nghề truyề n thố ng , làng nghề, làng nghề truyề n thố ng gồ m: - Đối với làng nghề, gồ m 03 tiêu chí: Có tối thiểu 30% tổ ng số hô ̣ trên điạ bàn tham gia các hoạt đô ̣ng ngành nghề nông thôn , hoạt động sản xuất kinh doanh ổ n đinh ̣ , tố i thiể u 2 năm tiń h đế n t hời điể m đề nghi ̣công nhâ ̣n , chấ p hành tốt chính sách pháp luâ ̣t của nhà nƣớc.[1], [2] n 6 * Người lao động - Ngƣời lao động là những ngƣời trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định. Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động.
Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho bản thân họ hoặc ngƣời khác sử dụng và đƣợc trao đổi trên thị trƣờng hàng hóa. * Lao động nông thôn - Đó là những ngƣời lao động hiện đang cƣ trú sinh sống trên địa bàn khu vực nông thôn. * Thu nhập - Đối với hộ nông dân, ngƣời ta thƣờng quan tâm đến thu nhập hỗn hợp. Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần thu nhập của hộ bao gồm lãi và công lao động gia đình nằm trong giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định, thuế.
Vai trò của làng nghề đối với sự phát triển - Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế. - Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa. - Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cƣ dân nông thôn. - Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và phát triển du lịch.
Những khó khăn thách thức ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề dệt mành cọ. Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Vị trí địa lý có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế làng nghề. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi nhƣ: gần đƣờng giao thông, gần khu thu mua nguyên liệu, gần thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm sẽ có điều kiện phát triển và tiêu thụ mành cọ thuận lợi hơn. n 7 - Khí hậu thời tiết Khí hậu thời tiết có ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất nghề dệt mành cọ.