CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sốt rét và nghiên cứu sốt rét. Giới thiệu chung về bệnh sốt rét Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do ký sinh trùng sốt rét Plasmodium gây nên. Bệnh lây truyền theo đường máu, chủ yếu do muỗi Anopheles truyền. Biểu hiện bằng những cơn sốt rét với ba triệu chứng cơ bản là rét run, sốt, vã mồ hôi.
Ở người, bệnh tiến triển có chu kỳ và có hạn định nếu không bị tái nhiễm, bệnh có miễn dịch đặc hiệu nhưng không bền vững. Bệnh lưu hành ở từng địa phương, có thể gây thành dịch. Bệnh có thuốc điều trị đặc hiệu và phòng chống được. Mầm bệnh sốt rét được xác định là ký sinh trùng đơn bào thuộc lớp Protozoa, họ Plasmodidae, giống Plasmodium.
Theo nhiều tác giả có khoảng 120 loài Plasmodium, trong đó có ít nhất có 22 loài ở động vật có tứ chi, 19 loài ở động vật có vú, khoảng 70 loài ở chim và bò sát. Người không mắc Plasmodium của chim và loài gặm nhấm do có miễn dịch tự nhiên với các Plasmodium này. Có 05 loài gây bệnh cho người là P. ovale và gần đây là P.
Việt Nam có đủ 5 loài ký sinh trùng nói trên. Chu kỳ phát triển của ký sinh trùng sốt rét phải hoàn thành qua 2 vật chủ: - Giai đoạn sinh sản hữu tính ở cơ thể muỗi Anopheles (vật chủ chính). - Giai đoạn sinh sản vô tính ở cơ thể người (vật chủ phụ). Đời sống của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người có hạn định, tuỳ theo loài ký sinh trùng sốt rét mà chúng tồn tại trong cơ thể người thời gian dài hay ngắn.
Nếu không bị tái nhiễm hoặc không được điều trị, ký sinh trùng có thể tồn tại trong cơ thể người: P. ovale từ 1 - 5 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chu kỳ phát triển vô tính của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người. Gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn trong gan (tiền hồng cầu) và giai đoạn trong máu (trong hồng cầu).
- Giai đoạn trong gan: Khi muỗi Anopheles đốt người, thoa trùng sốt rét từ tuyến nước bọt của muỗi vào máu người. Sau 30 phút, toàn bộ thoa trùng vào gan và phát triển tại gan, đối với P. malariae thì toàn bộ thoa trùng phát triển thành thể phân liệt và giải phóng ký sinh trùng non (merozoit) vào máu, đối với P. ovale thì một số thoa trùng khi thâm nhập tế bào gan không phát triển ngay thành thể phân liệt mà tồn tại ở thể ngủ (hypnozoites) trong gan gây nên những cơn sốt rét tái phát xa.
- Giai đoạn trong máu: Ký sinh trùng từ gan xâm nhập vào hồng cầu, phát triển từ thể tư dưỡng thành thể phân liệt, phá vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng non gây nên cơn sốt rét trên lâm sàng. Hầu hết ký sinh trùng non quay lại ký sinh trong hồng cầu mới, một số biệt hóa thành thể hữu tính là giao bào đực và giao bào cái, những giao bào này nếu được muỗi hút vào dạ dày sẽ tiếp tục phát triển trong cơ thể muỗi tạo thành thoa trùng, nếu không được muỗi hút, giao bào ở lại trong máu rồi bị tiêu đi. Chu kỳ phát triển hữu tính của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể muỗi. Giao bào đực và giao bào cái được muỗi hút vào dạ dày sẽ phát triển thành giao tử đực và giao tử cái, một giao bào cái phát triển thành một giao tử cái, một giao bảo đực phát triển thành nhiều giao tử đực bằng hiện tượng thoát roi.
Giao tử đực kết hợp với giao tử cái tạo thành hợp tử, hợp tử phát triển thành trứng di động chui qua thành dạ dày muỗi và phát triển thành trứng nang già ở thành ngoài dạ dày muỗi, mỗi trứng nang già có khoảng 10. Trứng nang già vỡ ra giải phóng thoa trùng, thoa trùng di chuyển đến tuyến nước bọt của muỗi. Khi muỗi đốt người thoa trùng sẽ thâm nhập vào cơ thể người. Vì muỗi là động vật biến nhiệt nên thời gian phát triển của ký sinh trùng ở muỗi phụ thuộc vào nhiệt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ môi trường, nhiệt độ càng cao thì ký sinh trùng phát triển càng nhanh, nhiệt độ xuống thấp quá ngưỡng thì ký sinh trùng không phát triển được, ngưỡng nhiệt độ tối thiểu để P.
ovale phát triển được là >14°C và P. Giới thiệu về nguồn bệnh sốt rét. Muỗi truyền bệnh sốt rét. Muỗi truyền bệnh sốt rét đã được xác định là giống Anopheles, trên thế giới có khoảng trên 420 loài, trong đó khoảng 70 loài có thể truyền sốt rét cho người.
Muỗi truyền bệnh sốt rét ở Việt Nam Ở Việt Nam, cho đến nay đã phát hiện được hơn 60 loài muỗi Anopheles, trong đó có 15 loài đã được xác định là muỗi truyền bệnh sốt rét. Có 3 loài muỗi truyền bệnh sốt rét chính ở Việt Nam là: An. dirus và An. minimus phân bố ở vùng rừng núi, trung du trên toàn quốc; muỗi trưởng thành thường trú đậu trong và ngoài nhà, ưa đốt cả người và gia súc.
Bọ gậy sống ở ven suối nước trong, chảy chậm, có thực vật thủy sinh. dirus phân bố ở vùng rừng núi từ 20 vĩ độ bắc trở vào Nam; muỗi trưởng thành trú đậu ngoài nhà, ưa đốt máu người. Bọ gậy sống ở ổ nước tạm thời, suối nhỏ, dưới bóng râm trong rừng. epiroticus phân bố ở vùng ven biển nuớc lợ từ Bình Thuận trở vào Nam bộ; muỗi trưởng thành trú đậu cả trong và ngoài nhà, ưa đốt máu cả người và gia súc.
Bọ gậy sống ở các thủy vực nước lợ có thực vật thủy sinh, độ mặn từ 3o -28o, thích hợp nhất khoảng 7%o. Đặc điểm sinh học muỗi Anopheles. Muỗi Anopheles có kích thước từ 5 - 10mm, cơ thể gồm 3 phần: Đầu, ngực và bụng. Các đặc điểm ở cánh, chân, râu, vòi, đầu, mắt, pan (xúc biện)… được sử dụng để phân biệt muỗi Anopheles với các loài muỗi khác và giúp cho phân loại các loài Anopheles với nhau.
Muỗi 1-2 ngày tuổi sau khi nở ra từ quăng có thể đi tìm mồi đốt máu và giao phối, sau khi đốt máu (1 hoặc vài lần) muỗi tìm chỗ trú ẩn và phát triển trứng. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Muỗi đực không hút máu chỉ làm nhiệm vụ duy trì nòi giống. Mỗi muỗi cái chỉ giao phối 1 lần trong đời, sau khi giao phối, tinh trùng được chứa trong túi tinh của muỗi cái để thụ tinh nhiều lần trong suốt vòng đời. Muỗi Anopheles đẻ trứng trên mặt nước, trứng nở thành bọ gậy, bọ gậy phát triển thành quăng, quăng lột xác thành muỗi trưởng thành.
Nơi muỗi đẻ khác nhau tuỳ theo từng loài như suối nước trong, chảy chậm, có thực vật thủy sinh, ổ nước đọng, ao hồ, ruộng lúa, suối nhỏ, dưới bóng râm trong rừng và các thủy vực nước lợ có thực vật thủy sinh… Đặc điểm sinh học của trứng. Muỗi Anopheles đẻ mỗi lứa khoảng 50 - 500 trứng tùy theo lượng máu hút được. Lúc đầu trứng mầu trắng đục sau vài giờ chuyển thành màu đen 2 bên có phao để trứng nổi trên mặt nước, rời rạc từng quả. Sau 1-2 ngày hoặc lâu hơn tùy theo loài và tùy theo điều kiện môi trường.
Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng tới sự phát triển của trứng, nhiệt độ phù hợp từ 25 oC - 28oC. Ánh sáng đóng vai trò quan trọng đến phát triển của trứng, nếu chiếu sáng nhiều thì trứng nở nhanh hơn. Đặc điểm sinh học bọ gậy và quăng. Bọ gậy Anopheles sau khi nở từ trứng phải qua 4 lần lột xác để phát triển kích thước cơ thể từ tuổi 1 đến tuổi 4 và trở thành quăng, bọ gậy sống trong nước, ăn vi khuẩn và chất hữu cơ có sẵn trong nước.
Bọ gậy hô hấp bằng cách lấy ôxy trong không khí qua lỗ thở ở đốt bụng cuối khi nổi trên mặt nước. Thời gian phát triển của bọ gậy thường khoảng 5 ngày đến 1 tuần hoặc lâu hơn tùy theo loài và điều kiện môi trường. Quăng sống trong nước hoạt động rất linh hoạt nhưng không ăn gì, sau 1-3 ngày lột xác thành muỗi trưởng thành. Môi trường và tuổi thọ của muỗi Anopheles.
Nhiệt độ có liên quan đến tuổi thọ của muỗi, từ 20 đến 30 oC, muỗi cái có thể sống trung bình khoảng 4 tuần kể cả khi có nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Độ ẩm ảnh hưởng đến tuổi thọ Anopheles sống lâu khi có độ ẩm tương đối cao (ít nhất > 60%). Muỗi càng sống lâu càng thuận lợi cho chu kỳ phát triển ký sinh trùng trong cơ thể muỗi. Những nước ôn đới, muỗi không phát triển vào những tháng 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạnh, những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, muỗi phát triển quanh năm với những đỉnh cao vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.
Rất hiếm tìm thấy Anopheles ở độ cao từ 2000 trở lên. Muỗi đực có tuổi thọ ngắn thường dưới 1 tuần. Sinh cảnh có ảnh hưởng đến sự phân bố của muỗi truyền bệnh, tạo nên những hình thái sốt rét khác nhau: Sốt rét rùng núi, sốt rét ven biển, sốt rét cao nguyên, sốt rét đô thị. Các loài động vật hoang dã, động vật nuôi là mồi thu hút muỗi đốt, do vậy làm giảm tiếp xúc người-muỗi.
Nhiều loài động vật thủy sinh ăn bọ gậy và có thể làm biện pháp sinh học để chống muỗi. Chu kỳ sinh thực của muỗi Anopheles. Anopheles tìm mồi đốt hút máu, rồi bay đến nơi trú đậu chờ phát triển trứng, khi trứng chín, muỗi tìm chỗ đẻ thích hợp vào chập tối, sau đó bay tìm mồi tiếp và bắt đầu một chu kỳ mới. Thời gian của mỗi chu kỳ phụ thuộc vào loài Anopheles và nhiệt độ (thích hợp từ 20o-30oC, ở 23oC, chu kỳ kéo dài 2-3 ngày).
Muỗi cái đốt người hoặc súc vật để lấy máu nuôi trứng phát triển. Một chu kỳ sinh thực của muỗi gồm 3 giai đoạn: Muỗi tìm mồi hút máu vật chủ: Hầu hết các loài muỗi Anopheles hoạt động đốt máu vào ban đêm, rất ít khi đốt mồi vào ban ngày. Muỗi tiêu máu và phát triển trứng: Khi đã hút no máu, muỗi tìm nơi trú ẩn tiêu máu, máu tiêu dần và trứng phát triển theo. Muỗi tìm nơi đẻ, tuỳ loài thích đẻ ở các điểm nước khác nhau (suối, ruộng, ao, hồ.) Tính ưa hút máu và trú ẩn của muỗi Anopheles.
Tuỳ theo loài thích đốt người hay động vật, hoặc cả người và động vật. Đối với những loài đốt cả người và gia súc có thể làm hàng rào bảo vệ người. Các loài Anopheles chỉ đốt gia súc hoặc động vật hoang dại là chính thuờng ít hoặc không có vai trò truyền bệnh.