ĐẶT VẤN ĐỀ Như mọi người đã thấy trong những năm gần đây nghành chế biến gỗ của nước ta đã và đang đi lên, có nhiều nhà máy vừa và nhỏ được xây dựng lên với mục đích tạo ra các sản phẩm từ gỗ phục vụ mục đích con người. Từ trước tới nay gỗ là loại vật liệu rất thân thiện với con người và được sử dụng rất rộng rãi mà nhiều loại vật liệu khác không thể thay thế được, các sản phẩm từ gỗ đang được sử dụng trong một số ngành như: xây dựng cơ bản, đồ mộc nội thất ngoại thất, giao thông, kiến trúc,…Thực trạng hiện nay cho thấy nguồn nguyên liệu gỗ tự nhiên ngày càng cạn kiệt do vậy dẫn tới tình trạng khan hiếm nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu gỗ có đường kính lớn. Chính điều đó đã gây không ít hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới ngành công nghiệp chế biến gỗ. Đứng trước tình trạng nguyên liệu ngày càng khan hiếm như vậy đã đặt ra bài toán về sử dụng cũng như tìm kiếm nguyên liệu mới và việc kết hợp sử dụng hợp lý nguồn nguyên liệu đã có là một điều hết sức cần thiết hiện nay.
Gỗ rừng trồng và công nghệ sản xuất ván nhân tạo đang là một câu trả lời mang tính thuyết phục nhất hiện nay. Gỗ rừng trồng với đặc điểm dễ trồng, nhanh phát triển do vậy việc sử dụng gỗ rừng trồng làm nguyên liệu chính cho ngành chế biến gỗ đã và đang được sử dụng rất rộng rãi trong hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ. Trong thực tế việc sử dụng gỗ vào những mục đích cần gỗ có kích thước lớn là rất nhiều nhưng gỗ có kích thước lớn hiện nay ngày càng ít do việc khai thác rừng trái phép diễn ra nhiều. Vì thế công nghệ sản xuất gỗ ghép đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục nhược điểm này của nguyên liệu gỗ.
Gỗ ghép là một loại vật liệu gỗ được tạo nên từ những thanh gỗ nhỏ nên không bị mất đi tính tự nhiên của gỗ, lại có tính ổn định kích thước tốt hơn, đặc biệt hơn nữa là gỗ ghép có thể tạo ra kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều dày lớn phục vụ mọi nhu cầu của xã hội. 2 Việc nghiên cứu cấu tạo gỗ ghép từ các loại gỗ rừng trồng là rất cần thiết và là xu hướng tất yếu trong công nghiệp chế biến gỗ. Tuy nhiên việc nghiên cứu về mặt lý thuyết chưa đạt được hiệu quả cao trong quá trình sản xuất công nghiệp mà phải biết kết hợp giữa lý thuyết và thực tế sản xuất của cơ sở, từ đó sẽ có thể kích thích năng suất cũng như chất lượng sản xuất. Chính vì vậy khóa luận tốt nghiệp “ Đánh giá thực trạng công nghệ sản xuất gỗ ghép từ gỗ rừng trồng tại công ty TNHH Hoàn Cầu II “ sẽ phần nào đánh giá điều đó.
3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Những năm gần đây khi nguồn nguyên liệu gỗ tự nhiên không còn nhiều do thực trạng tàn phá rừng diễn ra nhiều, ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sinh thái và ngành chế biến gỗ nước ta. Bên cạnh đó thì loại hình sản xuất gỗ ghép mới được chú trọng phát triển.
Đặc biệt hiện nay khi các loại gỗ có đường kính lớn ngày càng hạn chế thì song song với đó là các loại gỗ rừng trồng được đưa vào sử dụng làm nguyên liệu chính cho ngành chế biến gỗ nói chung và việc sản xuất gỗ ghép nói riêng là giải pháp tương đối hiệu quả cho các doanh nghiệp chế biến gỗ. Bên cạnh nhu cầu cần thiết sử dụng gỗ rừng trồng làm nguyên liệu chính để phục vụ sản xuất thì việc nghiên cứu công nghệ sản xuất cũng như tìm hiểu ưu nhược điểm của các loại gỗ rừng trồng mới cho hiệu quả cao đang là vấn đề được đặt ra. Đối với công nghệ sản xuất gỗ ghép từ gỗ rừng trồng chưa có sự đầu tư nghiên cứu nhiều lắm, mới có sinh viên Hoàng Đức Thuận khóa 2003-2007 nghiên cứu cấu tạo glulam từ gỗ dừa, còn có sinh viên Ngô Thùy Dương khóa 2004-2008 với đề tài đánh giá một số tính chất công nghệ của gỗ ghép từ gỗ trẩu làm đồ mộc xây dựng. Một số đề tài phần lớn chỉ nghiên cứu về mặt lý thuyết, chưa có sự áp dụng rộng rãi những lý thuyết đó vào sản xuất thực tiễn của các doanh nghiệp.
Điều này đã tạo nên khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà trường. Chính vì vậy thực trạng sản xuất gỗ ghép của nhiều doanh nghiệp trong nước còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, điều đó dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao. Chính vì vậy trong đề tài này tôi xin đánh giá thực trạng công nghệ sản xuất gỗ ghép từ gỗ rừng trồng tại công ty TNHH Hoàn CầuII với mục đích hoàn thiện hơn công nghệ sản xuất gỗ ghép. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Gỗ ghép trên thế giới đã được phát triển từ nhiều năm về trước, chủ yếu là ở Châu Âu.Với việc áp dụng các công nghệ hiện đại, các dây truyền máy móc với độ chính xác cao vào sản xuất không chỉ công nghệ gỗ ghép nói riêng mà cả nghành chế biến gỗ nói chung.
Do vậy chất lượng sản phẩm, năng suất sản phẩm của họ tương đối cao. Một số nước sản xuất gỗ ghép có sản lượng lớn như Phần Lan, Đức, Nga, Tiệp Khắc, … Phần Lan là nước sản xuất ván ghép dạng glulam có sản lượng lớn nhất; vào năm 2006 có khoảng 11 công ty sản xuất ván ghép dạng glulam. Nước này hàng năm sản xuất khoảng 206000 m3, trong đó 39000 m3 tiêu thụ trong nước, còn lại được xuất sang các nước trong khối EU, Nhật Bản, … 1. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công nghệ sản xuất ván ghép thanh tại cơ sở.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cho cơ sở. Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình sản xuất của công ty. - Khảo sát công nghệ sản xuất ván ghép thanh. - Khảo sát thiết bị sản xuất ván ghép thanh.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ván ghép thanh. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Toàn bộ các công đoạn trong quá trình sản xuất ván ghép thanh tại công ty từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến các tấm ván ghép thanh sản phẩm cuối của dây truyền sản xuất. - Sản phẩm gỗ ghép sản xuất từ gỗ rừng trồng chủ yếu dùng để làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất đồ mộc nội ngoại thất. Phƣơng pháp thực hiện - Phương pháp điều tra khảo sát: Tìm hiểu thu thập số liệu gốc thực tế có tại hiện trường sản xuất, quan sát trực tiếp đối tượng cần tìm hiểu và điều tra thông tin qua các đối tượng đó.
Kết hợp cơ sở lý thuyết với quá trình khảo sát thực tế tại hiện trường. - Phương pháp chuyên gia: Sử dụng các ý kiến đánh giá của những người đi trước, người trực tiếp sản xuất cũng như chỉ đạo sản xuất. - Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa các tài liệu và tiếp thu các kiến thức đã được nghiên cứu từ trước. 6 CHƢƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Gỗ ghép, yêu cầu nguyên liệu sản xuất gỗ ghép 2. Khái niệm gỗ ghép Gỗ ghép là một loại hình ván nhân tạo, những thanh gỗ có kích thước nhỏ, hoặc ngắn sau khi đã được loại bỏ các khuyết tật, được ghép lại với nhau, cần phải căn cứ vào màu sắc vân thớ của gỗ để phối hợp ghép sao cho hợp lý, sau đó sử dụng keo dán để ghép lại thành ván, có thể sử dụng phương pháp ghép ngón hoặc phương pháp ghép bằng để ghép chúng thành ván. Đặc điểm chung của loại ván này là đa dạng về kích thước không kén chọn về nguyên liệu, công nghệ đơn giản, phạm vi sử dụng rộng. Ở nhiều nước coi đây là vật liệu của kiến trúc, tức là chúng được sử dụng để thay thế cho những loại gỗ tròn có đường kính lớn.
Nếu dùng để sản xuất đồ gia dụng, thì căn cứ vào loại gỗ khác nhau, hoặc loại keo sử dụng khác nhau mà công dụng của chúng cũng sẽ khác nhau. Về cơ bản gỗ ghép không làm thay đổi kết cấu nguyên có của gỗ, hoặc là có thể nói gỗ ghép vẫn phát huy được tác dụng tự nhiên của gỗ, do đó gỗ ghép vẫn thuộc loại vật liệu tự nhiên. Gỗ ghép có tính đồng đều và tính ổn định về kích thước tốt hơn so với gỗ tự nhiên cùng loại. Sản xuất gỗ ghép sẽ sử dụng gỗ nhỏ vào những mục đích cần gỗ lớn, gỗ chất lượng kém nhưng lại sử dụng ở những vị trí đòi hỏi chất lượng cao, gỗ có độ rộng nhỏ nhưng lại dùng ở những nơi có yêu cầu độ rộng lớn, điều đó có tác dụng rất lớn cho việc nâng cao hiệu quả lợi dụng gỗ.
Ngoài ra, gỗ ghép còn được ứng dụng trong: sản xuất cửa chính, cửa sổ, cửa thông phòng, đồ gia dụng, tay vịn ghế, mặt bàn ăn, dụng cụ dạy học, tủ kính, tay vịn cầu thang, ghép tường trong phòng thể thao, ván sàn, khung cửa,… * Một số ƣu điểm của gỗ ghép : - Có thể sản xuất từ gỗ có kích thước nhỏ, độ bền cơ học thấp; 7 - Dễ nâng cao tỷ lệ lợi dụng gỗ; - Sản phẩm đa dạng và ổn định về kích thước; - Linh động khi liên kết lắp ghép; - Phạm vi sử dụng rộng. Yêu cầu nguyên liệu 2. Nguyên liệu gỗ - Không nên ghép các loại gỗ khác nhau trong cùng một sản phẩm; - Độ ẩm thanh 8-12%; - Chênh lệch ẩm giữa các thanh trong 1 sản phẩm <= 3%; - Sai số cho phép về kích thước của thanh ghép:. Chiều dày: + 0,3 mm;.
Chiều rộng: + 0,3 mm;. Chiều dài: + 20 mm; - Không cho phép có tủy trong thanh; - Nứt trên mặt gỗ ghép <= 1mm; - Nghiêng thớ <= 30 mm trên 3 m chiều dài ( <= 10%); - Một cạnh nào đó của thanh cơ sở phải nhỏ hơn 50 mm. Về chất kết dính: Sản phẩm dùng trong nhà điều kiện nhỏ hơn 500c thì dùng Melamin urê, Resorcinol hoặc dùng keo PVAc. Sản phẩm dùng ngoài trời: Với sản phẩm dùng ngoài trời có mái che nhiệt độ nhỏ hơn 500c thì dùng các loại keo loại 1 ( Resocinol hay Phenol Resocinol).