CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 1. Lý luận cơ bản về đánh giá thực hiện công việc 1. Khái niệm đánh giá thực hiện công việc Đánh giá thực hiện công việc là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản trị nhân lực. Nó là cơ sở cho các hoạt động quản trị nhân lực khác như tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và phát triển, thù lao … Công tác quản trị nhân lực thành công hay không là do phần lớn tổ chức biết đánh giá đúng hiệu quả làm việc của nhân viên.
Có rất nhiều cách gọi khác nhau về hoạt động đánh giá thực hiện công việc như đánh giá thành tích, đánh giá nhân viên. Tuy nhiên, khái niệm đánh giá thực hiện công việc thường được hiểu như sau: “Đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV) là sự đánh giá có hệ thống chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận sự đánh giá đó với người lao động”1 Nhận thấy khái niệm đánh giá thực hiện công việc có hai thuộc tính cơ bản đó là: Tính hệ thống và tính chính thức. Tính hệ thống thể hiện đánh giá theo những khoảng thời gian được quy định theo chu kỳ và thực hiện liên tục không gián đoạn. Quá trình đánh giá thực hiện theo tiến trình có tổ chức, bộ máy đánh giá, sử dụng phương pháp đánh giá khoa học có lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích đánh giá.
Tính chính thức thể hiện hoạt động đánh giá thực hiện công việc là công khai, cụ thệ hóa bằng văn bản và được sự chấp nhận ủng hộ của tập thể người lao động. Đối tượng đánh giá của quá trình đánh giá thực hiện công việc không phải là năng lực, phẩm chất đạo đức, trình độ giáo dục và đào tạo, kỹ năng 1 Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Lao động – xã hội, Hà Nội 7 của người lao động mà đó chính là sự thực hiện công việc của người lao động. Kết quả thông tin thu thập trong quá trình đánh giá được so sánh với các tiêu chuẩn cơ bản đã được xây dựng từ trước. Cơ sở của các tiêu chuẩn này là bản tiêu chuẩn thực hiện công việc của hoạt động phân tích công việc.
Kết quả đánh giá thực hiện công việc sẽ được thảo luận bởi người lao động và người đánh giá cung cấp thông tin cho người lao động biết về mức độ thực hiện công việc của mình nhằm mục đích thu thập thông tin phản hồi giúp cho chương trình đánh giá đảm bảo sự công bằng, chính xác. Đồng thời giúp người lao động nắm bắt được cách thức thực hiện công việc của mình một cách tốt hơn. Mục đích của việc đánh giá thực hiện công việc Các chương trình ĐGTHCV của nhân viên được sử dụng rộng rãi từ những năm 1980 ở các quốc gia phát triển khi cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt, các doanh nghiệp bắt buộc phải chú trọng và khuyến khích nhân viên thực hiện tốt các mục tiêu, yêu cầu trong công việc. ĐGTHCV chính thức được sử dụng rộng rãi trong nhiều mục đích như: * Cung cấp thông tin phản hồi cho nhân viên biết mức độ thực hiện công việc của họ so với các tiêu chuẩn mẫu và so với các nhân viên khác * Kích thích động viên nhân viên có những ý tưởng sáng tạo, phát triển về nhận thức và trách nhiệm , từ đó thúc đẩy nỗ lực thực hiện công việc tốt hơn * Lập các kế hoạch nguồn nhân lực: Cung cấp các thông tin làm cơ sở cho việc lập các kế hoạch nguồn nhân lực * Phát triển nhân viên thông qua việc giúp tổ chức xác định xem người nào cần đào tạo, đào tạo ở lĩnh vực nào,.
* Tuân thủ qui định pháp luật là cơ sở khách quan , công bằng cho việc thăng cấp, khen thưởng và kỷ luật. * Truyền thông, giao tiếp: làm cơ sở cho những cuộc thảo luận giữa cấp 8 trên và cấp dưới về vấn đề liên quan đến công việc. Thông qua sự tương tác và quá trình phản hồi hiệu quả, hai bên hiểu nhau tốt hơn, quan hệ tốt đẹp hơn. Đồng thời phát triển sự hiểu biết về công ty thông qua đàm thoại về các cơ hội và hoạch định nghề nghiệp.
Tác dụng của ĐGTHCV: ĐGTHCV là quá trình đánh giá nhân viên thực hiện công việc của họ cho các nhân viên. Kết quả của ĐGTHCV được dùng để thiết lập mức lương, phản hồi về kết quả, xác định điểm mạnh yếu của nhân viên. ĐGTHCV có các công dụng tổng quát trong tổ chức: * Đo lường được sẽ tạo nên mong đợi một cách rõ ràng : Khi thiết lập và thống nhất mục tiêu, quản lý và nhân viên sẽ thảo luận và thông qua một cách rõ ràng. Đồng thời mục tiêu cuối cùng được thông qua nên nhân viên sẽ biết được một cách chính xác yêu cầu của doanh nghiệp và của người quản lý cho công việc của họ.
* Đo lường được sẽ tạo nên động lực làm việc: Thiết lập mục tiêu một cách thông minh và thách thức cho nhân viên và nhóm sẽ tạo động lực và hứng khởi làm việc hết mình để hoàn thành mục tiêu. Khi nhân viên có động lực , họ sẽ làm việc hiệu quả hơn rất nhiều. * Đo lường được có khi cũng làm mất động lực làm việc: Nếu mục tiêu đề ra không thông minh và quá khó để đạt được cũng sẽ làm nhân viên thất vọng và cảm thấy áp lực. Khi biết không thể nào đạt được mục tiêu nhân viên sẽ làm việc uể oải và hiệu quả sẽ rất thấp.
* Đo lường được kết quả sẽ cho cơ hội trao thưởng: Khi nhân viên đạt được mục tiêu đề ra, họ sẽ được tặng thưởng. Thông qua việc đánh giá so sánh với mục tiêu, doanh nghiệp cũng có thể xác định được danh sách nhân viên có năng lực để xây dựng nguồn lực con người sau này. * Đo lường được kết quả sẽ nảy sinh qui chế phạt: Cùng áp dụng chung tiêu chí, có thưởng có phạt. Những nhân viên phòng ban nào không đạt được 9 mục tiêu đề ra có thể bị khiển trách, cảnh cáo hoặc sa thải.
Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải đảm bảo rằng mục tiêu đề ra SMART và có thể đạt được với sự nỗ lực * Đo lường được sẽ tạo cơ hội xây dựng tinh thần làm việc theo nhóm: Một doanh nghiệp, phòng ban hay một nhóm nhân viên được thông tin rõ ràng về mục tiêu của phòng ban mình sẽ thúc đẩy tinh thần hỗ trợ, hợp tác để cùng nhau đạt được mục tiêu đề ra. * Đo lường được tạo nên tính tập trung: Một danh mục các mục tiêu với thứ tự ưu tiên sẽ tạo nên tính tập trung cho doanh nghiệp, phòng ban và nhân viên. Tất cả sẽ tập trung và nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu đề ra. Biện pháp quản trị Biện pháp phát triển - Đãi ngộ, thưởng ,phạt - Xác định điểm - Thăng tiến - Xác định các lĩnh vực tăng - Sa thải trưởng - Giảm biên chế - Hoạch định việc phát triển - Cho nghỉ việc - Kèm cặp và hoạch định sự nghiệp Đánh giá thành quả Hình 1.1: Mục đích của ĐGTHCV ( Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu của tác giả ) 10 1.
Tầm quan trọng của đánh giá thực hiện công việc và mối quan hệ của đánh giá thực hiện công việc với hoạt động của quản trị nhân lực Trong tổ chức, ĐGTHCV có ý nghĩa quan trọng vì nó phục vụ được nhiều mục tiêu quản lý và tác động trực tiếp tới cả người lao động và tổ chức nói chung. Các mục tiêu mà ĐGTHCV hướng tới là hai mục tiêu cơ bản bao gồm cải tiến sự thực hiện công việc của người lao động và giúp cho những người quản lý có thể đưa ra được các quyết định nhân sự đúng đắn như đào tạo và phát triển, thù lao, thăng tiến, kỷ luật … Quá trình ĐGTHCV, ở một mức độ nào đó, chính là sự mở rộng của thiết kế công việc và có những tác động cơ bản tới tổ chức nói chung. Do đó, ngoài việc giúp cho người quản lý đưa ra cá quyết định nhân sự, các kết quả ĐGTHCV còn giúp cho bộ phận quản lý nguồn nhân lực và lãnh đạo cấp cao có thể đánh giá được thắng lợi của các hoạt động chức năng về nguồn nhân lực như tuyển mộ, tuyển chọn, định hướng, thăng tiến, đào tạo và các hoạt động khác, kiểm điểm được mức độ đúng đắn và hiệu quả của các hoạt động đó, từ đó các phương hướng điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, mức độ hợp lý và đúng đắng của việc sử dụng các hệ thống đánh giá và thông tin phản hồi các kết quả đánh giá với người lao động có ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng và phát triển đạo đức, thái độ lao động của người lao động và bầu không khí tâm lý xã hội trong các tập thể lao động.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ĐGTHCV ĐGTHCV ngoài dựa vào các tiêu chí đánh giá mà doanh nghiệp đưa ra còn có sự đánh giá của các cấp quản lý và nhân viên đánh giá lẫn nhau. Tuy nhiên công việc đánh giá này luôn tồn tại những khó khăn bởi có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá này. Có thể xem xét 2 nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình đánh giá này như sau: 11 * Nhân tố khách quan: Một nhân tố rất nổi bật và cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng quá trình đánh giá này chính là bản chất của hệ thống các tiêu chí đánh giá này chưa phù hợp với tính chất công việc của từng vị trí hoặc các tiêu chí đưa ra chưa đầy đủ và có sức thuyết phục. Điều này rất hiển nhiên đặc biệt đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam khi các doanh nghiệp này đa số là chưa áp dụng các tiêu chuẩn phần mềm ứng dụng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Một ví dụ rất điển hình là các nước phát triển đã áp dụng KPI - BSC trong đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên từ những năm 1980 còn ở Việt Nam mới được bàn luận đến trong vòng 5 năm trở lại đây và mới được một số doanh nghiệp áp dụng thành công. Một nhân tố khác nữa cần xem xét đến là tuy rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá rất chi tiết, đầy đủ nhưng khi áp dụng vào một nhánh tổ chức nào đó lại không phù hợp, tính ứng dụng thực tiễn không cao.