CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan Nước biển dâng (NBD): là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão.
NBD tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác [4,5, 6, 8]. Ngập lụt: là hiện tượng mặt đất bị ngập nước do ảnh hưởng của mưa lớn, lũ, triều cường, NBD. Nguy cơ ngập lụt được xác định qua xác suất xảy ra ngập và những hậu quả của nó. Nguy cơ ngập lụt là khả năng hoặc xác suất xảy ra ngập lụt ở các mức độ khác nhau [99].
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu: là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương. Ngoài các ảnh hưởng bất lợi còn có thể có các ảnh hưởng có lợi [69]. Tổng giá trị kinh tế: (TEV) là cơ sở của việc lượng giá các giá trị môi trường và cả tài nguyên thiên nhiên, hoặc TEV là tổng hợp tất cả các dạng giá trị có liên quan đến một tài nguyên, hàng hóa, hay dịch vụ môi trường [78]. Theo Bolt và nnk (2005), TEV được tính theo công thức sau: TEV = UV + NUV = DUV + IUV + OV + EV+ BV (1.1) Trong đó: TEV (total economic value): tổng giá trị kinh tế; UV (use value): giá trị sử dụng; NUV (non use value): giá trị không sử dụng; DUV (direct use value): giá trị sử dụng trực tiếp; IUV (indirect use value): giá trị sử dụng gián tiếp; OV (option value): giá trị lựa chọn; EV (existence value): giá trị tồn tại; BV (bequest value): giá trị lưu truyền.
Khái niệm về tổn thất và thiệt hại do BĐKH Tổn thất - Mất mát (Loss): Tác động không thể phục hồi do BĐKH Thiệt hại (Damage): Tác động có thể phục hồi do BĐKH Tổn thất và thiệt hại: Những tác động của BĐKH mà con người không thể đối phó hoặc thích ứng [11]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thiên tai: là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [36]. Rủi ro thiên tai: Những tổn thất tiềm ẩn về tính mạng, tình trạng sức khỏe, các hoạt động sinh kế, tài sản và các dịch vụ do thiên tai gây ra cho một cộng đồng hoặc một xã hội cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định [36]. Thiệt hại do thiên tai: là những tác động của các loại hình thiên tai ảnh hưởng đến con người, động vật nuôi ở các mức độ khác nhau; làm phá hủy hoặc hư hỏng về vật chất, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế, xã hội xảy ra trong hoặc ngay khi thiên tai xảy ra [1].
Mức thiệt hại của thiên tai: theo Thông tư 43/2015/TTLT- BNNPTNT- BKHDT, được chia làm 4 mức sau: 1.Thiệt hại hoàn toàn: là những vật chất bị mất trắng hoặc bị phá hủy, hư hỏng trên 70% không thể khôi phục lại. Thiệt hại rất nặng: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ 50- 70%. Thiệt hại nặng: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ 30-50%. Thiệt hại một phần: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị hư hỏng dưới 30% [1].
Đất nông nghiệp (ĐNN): Theo Luật đất đai (2003, 2013), là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Căn cứ mục đích sử dụng, ĐNN được chia thành các loại đất như sau: (a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (b) Đất trồng cây lâu năm; (c) Đất rừng sản xuất; (d) Đất rừng phòng hộ; (đ) Đất rừng đặc dụng; (e) Đất nuôi trồng thuỷ sản; (g) Đất làm muối; (h) ĐNN khác theo quy định của Chính phủ [35]. Sử dụng ĐNN: là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn, để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tuỳ vào mức độ phát triển kinh tế - xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng ĐNN được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái [15,47]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thích ứng với BĐKH: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [13].
Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái (EbA): là sử dụng đa dạng sinh học và dịch vụ HST như một phần quan trọng trong chiến lược tổng thể để giúp cho con người thích ứng được với các tác động bất lợi từ BĐKH [94]. Sáng kiến về nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA) là mô hình thích ứng với BĐKH trong nông nghiệp theo hướng đảm bảo tăng năng suất và thu nhập, nâng cao tính chống chịu bền vững của các hệ sinh thái, nguồn sinh kế cho nông dân và giảm/loại trừ phát thải khí nhà kính (KNK) đang được nhiều quốc gia chú trọng phát triển. Trong đó tập trung phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH, được coi là hướng phát triển đem lại “3 lợi ích kép” (triple win) cho nông nghiệp, khí hậu và an ninh lương thực gồm (i) tăng năng suất và thu nhập; (ii) cải thiện khả năng thích ứng về sinh kế và hệ sinh thái; và (iii) giảm và loại trừ phát thải KNK [86]. Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Việt Nam Theo Bộ TNMT (2016), trong thời kỳ 1958 - 2014, nhiệt độ có xu thế tăng tại hầu hết các trạm quan trắc với nhiệt độ trung bình năm trên cả nước tăng khoảng 0,62oC (khoảng 0,10oC/thập kỷ).
Mực nước biển tại các trạm hải văn của Việt Nam có xu hướng tăng rõ rệt với mức tăng khoảng 2,45 mm/năm. Trong thời kỳ 1993- 2014, mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn đều có xu thế tăng với mức độ tăng trung bình khoảng 3,34 mm/năm (Hình 1. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm tại các trạm hải văn (Nguồn: Bộ TNMT, 2016) Theo số liệu vệ tinh, trong giai đoạn 1993 - 2014, mực nước trung bình toàn Biển Đông biến đổi với tốc độ khoảng 4,05 ± 0,6 mm/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trung bình toàn cầu trong cùng giai đoạn (3,25 ± 0,08 mm/năm).
Tính trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển tăng khoảng 3,50 ± 0,7mm/năm. Khu vực ven biển Trung Bộ tăng mạnh nhất với tốc độ tăng khoảng trên 4mm/năm; khu vực ven biển vịnh Bắc Bộ có mức tăng thấp hơn, khoảng 2,5 mm/năm (Hình 1. Xu thế thay đổi mực nước biển toàn Biển Đông giai đoạn 1993 -2014 theo số liệu vệ tinh (Nguồn: Bộ TNMT, 2016) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Nam Định a.
Nhiệt độ Theo hình 1.3 biểu diễn biến trình nhiệt độ trung bình năm từ số liệu khí tượng tại 04 trạm ở khu vực Nam Định và lân cận cho thấy, nhiệt độ trung bình thời kỳ 1960 - 2014 dao động từ 22,90C đến 24,60C. Ở thời kỳ này, nhiệt độ trung bình năm tại Nam Định tăng 0,130C/thập kỷ. Nhiệt độ trung bình năm ở khu vực Nam Định thời kỳ 1960 - 2014 (Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV) Mức tăng nhiệt độ giữa các mùa trong năm là rất khác nhau như bảng 1. Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa đông thời kỳ từ 1960 đến 2014 là nhỏ nhất (0,1°C/thập kỷ) và mùa xuân là lớn nhất (0,15°C/thập kỷ).
Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa và năm tại Nam Định thời kỳ 1960 – 2014 (°C/thập kỷ) Đông Xuân Hè Thu Trạm Năm (XII – II) (III – V) (VI – VIII) (IX – XI) Nam Định 0,1 0,15 0,14 0,13 0,13 (Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV) b. Lượng mưa Tại trạm Nam Định, lượng mưa năm trong thời kỳ 1960 - 2014 giảm trung bình 5,3 mm/năm. Trong đó, lượng mưa mùa thu giảm nhiều nhất với mức giảm trung bình 4,1 mm/năm như thống kê tại bảng 1. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Biến đổi của lượng mưa mùa và năm tại Nam Định thời kỳ 1971 – 2014 (mm/năm) Đông Xuân Hè Thu Trạm Năm (XII – II) (III – V) (VI –VIII) (IX – XI) Nam Định -0,5 0,2 -0,9 -4,1 -5,3 (Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV) c.Mực nước biển Do khu vực Nam Định không có trạm hải văn nên số liệu mực nước tại trạm hải văn Hòn Dáu được lựa chọn đại diện cho xu thế của mực nước tại khu vực biển Nam Định.4 thể hiện chuẩn sai mực nước trung bình năm tại trạm Hòn Dáu giai đoạn 1966 - 2013. Chuẩn sai mực nước trung bình năm tại trạm Hòn Dáu giai đoạn 1966 – 2013 (Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV) Theo hình 1.4, mực nước tại khu vực Nam Định tăng với tốc độ trung bình 1,95 mm/năm. Nếu tính trong thời kỳ 1993 - 2013, mực nước biển trung bình khu vực Nam Định tăng với mức tăng trung bình 2,94 mm/năm.5 biểu diễn chuẩn sai mực nước trung bình năm tại khu vực Nam Định theo số liệu vệ tinh giai đoạn 1993 - 2013. Theo đó, mực nước tại khu vực Nam Định giai đoạn 1993 - 2013 tăng với tốc độ trung bình là 2,9 mm/năm, khá tương đồng với mức tăng tại trạm Hòn Dáu trong cùng giai đoạn.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chuẩn sai mực nước trung bình năm ở khu vực Nam Định theo số liệu vệ tinh giai đoạn 1993 – 2013 (Nguồn số liệu: https://podaac. Kịch bản NBD cho Nam Định Năm 2016, Bộ TNMT đã công bố kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam.