CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản cần làm rõ 1.1 Loại thải: Loại thải bò là hành động xác định đối tượng và loại bỏ một con bò khỏi đàn, giả sử quy mô đàn không đổi hoặc mở rộng, thay thế con bò đó bằng một con bò khác, thường là bò cái tơ đang cho con bú lần đầu. Tỷ lệ loại thải được mô tả bằng % bò bị loại khỏi đàn.
Hiểu rõ được nguyên nhân và tỷ lệ loại thải là nhân tố quan trọng trong quản lý sản xuất sữa và kiểm soát lợi nhuận. Khi các nhà quản lý trang trại bò sữa thực hiện việc loại thải gia súc quá thường xuyên hoặc quá nhanh, chi phí thay thế sẽ là quá cao. Khi người quản lý quyết định giữ nuôi gia súc quá lâu thì khả năng sản xuất sữa, sinh sản hoặc việc cải thiện các chỉ tiêu di truyền có thể bị suy giảm. Theo wikipedia “Loại thải (tiếng Anh: Culling) hay Vật nuôi thải loại chỉ việc tiêu hủy, loại bỏ đi những cá thể không mong muốn hoặc đã chết do dịch bệnh[1] hiện nay, khái niệm này được mở rộng hơn, vì sự rời đi của con bò ra khỏi đàn do việc bán (sold), giết mổ (slaughter), tận thu (salvage) hoặc bị chết (died) đều được gọi là loại thải, tương ứng là thuật ngữ tỉ lệ hao hụt (Herd turnover rate)”.
Loại thải tự nguyện “là cho trường hợp bán bò để nuôi vắt sữa hoặc cho mục đích khác với điều kiện bò được bán bình thường về sức khỏe cũng như năng suất bình thường” (Wikipedia, 2022). Loại Thải không tự nguyện là việc loại thải bò có liên quan đến lí do sức khỏe như đau chân móng, tai nạn, không có khả năng sinh sản hoặc kém khả năng sinh sản, bệnh viêm vú, bệnh khác. Cách phân loại này không phản ánh thực tế của quyết định loại thải hoặc bản chất lý do tại sao con bò được loại thải. Quá trình phân loại nguyên nhân loại thải hay bị mắc lỗi thiên lệch và sai.2 Chất lượng sữa Theo Cooley (n.d), Chất lượng sữa tươi nguyên liệu được đánh giá dựa theo 4 tiêu chí chính: số lượng tế bào soma trong sữa, Không có tồn dư thuốc kháng sinh; tỉ lệ béo và protein trong sữa.
Theo khảo sát từ Progressive Dairy, có đến chín mươi bốn phần trăm nông dân chăn nuôi bò sữa đồng ý rằng tế bào soma thấp và số lượng vi khuẩn thấp là một trong những chỉ tiêu quan trọng của định nghĩa về chất lượng sữa.3 Tế bào Soma Tế bào soma là tế bào bạch cầu miễn dịch của cơ thể hiện diện trong sữa tươi nguyên liệu. “Số lượng tế bào Soma (SCC) được dùng để đánh giá chất lượng của sữa. Tế bào Soma là tế bào bình thường của cơ thể và có số lượng thấp ở trong sữa. Nếu số lượng tế bào Soma tăng trong sữa là điều không bình thường, điều này dẫn đến chất lượng sữa bị giảm do bò bị nhiễm trùng ở phía trong tuyến vú” (www.), bên cạnh đó “Trên thị trường chất lượng sữa thường xuyên được đánh giá thông qua số lượng tế bào Soma.
Mức độ của SCC được xác định để so sánh với các tiêu chuẩn chất lượng sữa. Hiện nay hầu hết thị trừơng đều trả giá cao cho sữa có số lượng SCC trong sữa thấp tức là chất lượng sữa tốt hơn” (www. Số lượng tế bào soma (SCC) là một chỉ tiêu chính để đánh giá chất lượng sữa, được định lượng bằng số lượng tế bào trên một ml sữa. Quy ước chung như sau (AHDB, 2022): - SCC của một cá thể bò từ 100.000 con trở xuống chỉ ra một con bò 'không bị nhiễm bệnh', nơi không có thiệt hại về sản lượng đáng kể do viêm vú cận lâm sàng.
- SCC ngưỡng 200.000 sẽ xác định liệu một con bò có bị nhiễm bệnh viêm vú hay không. Những con bò có kết quả trên 200.000 con có khả năng cao bị nhiễm bệnh trong ít nhất một phần tư. - Những con bò bị nhiễm mầm bệnh đáng kể có SCC từ 300. Luan van 7 Tại Châu Âu, người chăn nuôi bò sữa được thưởng về mặt tài chính nếu SCC của đàn thấp và sẽ bị phạt nếu SCC trong sữa nguyên liệu vượt ngưỡng cho phép, bởi vì số lượng tế bào Soma phản ánh chất lượng của sữa được tạo ra và có ý nghĩa đối với khả năng giữ hương vị của các sản phẩm sữa khác như sữa chua hoặc pho mát.
Các hợp đồng sữa thường xác định một số 'ngưỡng' SCC và bất kỳ khoản tiền thưởng tương ứng nào khi đạt được chúng.000 được Liên minh Châu Âu coi là không phù hợp cho tiêu dùng của con người. Chu kì tiết sữa Là khoảng thời gian tính từ bò mẹ bắt đầu tiết sữa từ các tuyến vú của nó. Một chu kì tiết sữa được tính bằng khoảng thời gian giữa lần để trước và lần đẻ ở lứa tiếp theo. Trong điều kiện lí tưởng thì một chu kì vắt sữa có khoảng thời gian là 12 tháng, trong đó thời gian cho sữa liên tục là 306 ngày và 60 ngày cạn sữa để phục hồi lại thể trạng, nhằm chuẩn bị cho lứa đẻ tiếp theo.
(Holsteinfoundation, 2017) Bò đẻ lần đầu tiên được gọi là bò vắt sữa chu kì 1, ở các lần đẻ tiếp theo tương ứng sẽ được gọi là bò vắt sữa chu kì 2, 3 … 1.2 Tổng quan về bệnh viêm vú 1. Định nghĩa “Viêm vú bò là một bệnh phức tạp gây nên bởi sự tương tác qua lại giữa bò, vi khuẩn và môi trường” (Nguyễn Văn Thành, 2002). Bệnh viêm vú là bệnh được gây ra khi có sự xâm nhập của vi khuẩn từ môi trường ngoài vào trong tuyến vú của bò. Hầu hết các loài vi khuẩn đều có thể tấn công vào tuyến vú và gây ra bệnh viêm vú (Erkine, 2020).
Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hồ Chí Minh, “bệnh viêm vú là bệnh xảy ra khá phổ biến trên đàn bò sữa. Theo khảo sát cho thấy, tỷ lệ bò cái cho sữa mắc bệnh viêm vú chiếm khoảng 60% trong tổng đàn. Tuy không gây chết ngay cho bò mắc bệnh, nhưng thiệt hại về kinh tế là khá lớn, thậm chí phải loại thải vật nuôi”. Các loại bệnh viêm vú trên bò Bệnh viêm vú trên bò thường được phân thành 2 nhóm, đó là nhóm viêm vú lâm sàng và viêm vú cận lâm sàng (hay còn được gọi là viêm vú tiềm ẩn).
(Azzoo và cs. Viêm vú lâm sàng: Viêm vú lâm sàng là một phản ứng viêm do nhiễm trùng gây ra, đặc trưng thông qua sự biểu hiện bất thường rất rõ ràng sữa (ví dụ thay đổi về màu sắc của sữa, kết tủa sữa). Khi mức độ viêm tăng lên, những thay đổi ở bầu vú (sưng, nóng, đau, đỏ) cũng thể hiện rõ ràng hơn Các trường hợp lâm sàng chỉ bao gồm các dấu hiệu cục bộ được gọi là nhẹ hoặc trung bình. Nếu phản ứng viêm bao gồm toàn thân (sốt, chán ăn, sốc), trường hợp này được gọi là nghiêm trọng.
Nếu khởi phát rất nhanh, thường xảy ra với các ca lâm sàng nặng, thì đó được gọi là viêm vú cấp tính hoặc nặng. Những con bò bị ảnh hưởng nặng hơn có xu hướng tiết huyết thanh ở các vú bị viêm nặng Bệnh viêm vú cận lâm sàng Ảnh 1: Minh họa sự thay đổi của sữa được vắt từ bò viêm vú do Ecoli ở thời điểm từ 6 giờ đến 36 giờ sau khi nhiễm bệnh Nguồn: Courtesy of Dr. Ronald Erskine, tháng 5/2020 Luan van 9 Theo Gonçalves và cộng sự (2018), viêm vú cận lâm sàng (SM) là một dạng viêm vú không có triệu chứng, ảnh hưởng đến 20-50% số bò trong các đàn nhất định, khiến đây là dạng viêm vú thường xuyên xảy ra nhất trên đàn bò sữa (dẫn theo Forsback và cs. Thông thường, bò bị trong giai đoạn này không có biểu hiện triệu chứng bên ngoài ở bầu vú như sưng, nóng, đỏ, đau, sữa trong giai đoạn này cũng không có sự thay đổi về tính chất vật lí như màu, mùi.2: So sánh sự khác nhau giữa viêm vú lâm sàng và viêm vú cận lâm sàng Chú thích: Dấu (-) không có; Dấu (+) là có Nguồn: Nguyễn Kiên Cường, Biopharma.
Đối với quy mô nghiên cứu trong luận văn, chỉ tập trung vào các tổn thất kinh tế liên quan đến bệnh viêm vú lâm sàng. Tổng quan về các thiệt hại kinh tế do bệnh viêm vú gây ra 1.1 Định nghĩa: Theo nghiên cứu của Rollin và các cộng sự (2015), trên đàn bò tại Mỹ thì thiệt hại về bệnh viêm vú trên bò được tính thông qua chi phí phát sinh do bệnh viêm vú mang lại, các chi phí phát sinh này được chia ra làm 2 nhóm, đó là chi phí gián tiếp và chi phí trực tiếp. Chi phí trực tiếp do bệnh viêm vú bao gồm: Chi phí chẩn đoán (10 USD), Chi phí điều trị ($36), Chi phí đổ bỏ sữa (25 USD),Chi phí dịch vụ thú Luan van 10 (4 USD), Chi phí nhân công labor (21 USD), và chi phí do bò chết (32 USD) (Rollin và cs, 2015) Chi phí gián tiếp bao gồm: Giảm sản lượng sữa tiềm năng (125 USD), Loại thải sớm và chi phí thay thế đàn (182 USD), and và chi phí do giảm tỉ lệ đậu thai (9 USD) (Rollin và cs, 2015). Trong tổng thiệt hại trên 1 ca viêm vú thì chi phí gián tiếp được xem là chi phí tổn thất có tác động dài hạn và chiếm tỉ trọng lên đến 71%, và chi phí do giảm sản lượng sữa tiềm năng chiếm tỉ trọng là 28% 1.2 Các chỉ tiêu để đánh giá thiệt hại về mặt kinh tế do bệnh viêm vú - Giảm sản lượng sữa Theo TS.
Nguyễn Kiên Cường, cố vấn kĩ thuật công ty liên doanh BIO _ PHARMACHEMIE đã công bố thì bệnh viêm vú trên bò ít gây chết vật nuôi nhưng gây ra nhiều thiệt hại lớn về mặt kinh tế cho người chăn nuôi vì làm giảm năng suất và chất lượng sữa, đồng thời làm tăng tỉ lệ loại thải, tăng chi phí điều trị và tồn dư kháng sinh trong sữa. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Azzoo và cs, 2020 cũng đã chỉ ra rằng, tỉ lệ năng suất sữa bị giảm trên bò viêm vú có quan hệ mật thiết đến các nhân tố sau đây: chủng vi khuẩn gây bệnh viêm vú trên bò (dẫn theo Gröhn và cs, 2004; Schukken và cs, 2009), chu kì chu sữa của bò ( dẫn theo Gröhn và cs., 2004; Hagnestam và cs., 2007; Schukken và cs., 2009), thời gian sau khi đã phục hồi từ bệnh viêm vú ( dẫn theo Schukken và cs.