Chương 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm Từ lâu, con người đã có những nhận thức về đất, tùy theo ngành, lĩnh vực nghiên cứu mà đất được xem xét với vai trò, đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trên phương diện nông học, Justus von Liebig nhận định, đất là một thùng chứa tĩnh của các chất dinh dưỡng cho cây trồng, đất có thể sử dụng và thay thế. Trên phương diện thổ nhưỡng học, nhà địa chất William cho rằng, đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trong.
Nha khoa hoc Vasily Vasilievich Dokuchaev cho rằng, đất như là một thực thé tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thé với những quá trình phức tap và đa dạng diễn ra trong nó. Theo ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng: chúng bị thay đôi một cách tự nhiên bởi các tác động phô biến của nước, không khí và một loạt các dạng hình và của các sinh vật sống hay chết. Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được trong sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau. Đất là phần trên mặt vỏ của Trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được, và theo nghĩa rộng là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất bao gồm các cau thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và bên dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu để lại trong quá khứ và hiện tại (Trần Thị Minh Châu, 2007).
Đặc điểm đất Việt Nam Đất ở nước ta rất đa dạng thé hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa 4m của thiên nhiên Việt Nam Các nhóm đất chính: Dat Feraliy ở đồi núi thấp, phân bố chủ yếu tại vùng đồi núi thấp, diện tích chiếm 65%. Đặc tính: Chua, nghèo mùn, nhiều sét, màu đỏ vàng thích hợp trồng cây công nghiệp và cây ăn quả. Dat mun núi cao: Phân bố ở vùng núi cao chiếm 11% điện tích đất cả nước. Đặc tính của đất là giàu mùn và thích hợp trồng rừng và cây công nghiệp.
Đất bồi tụ phù sa: Phân bố ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung, chiếm 24% diện tích dat. Dat có đặc tinh phì nhiêu, tơi x6p, ít chua, giàu mùn, thích hợp trồng cây lương thực và cây ăn quả. Công tác điều tra xây dựng bản đồ đất huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Trên địa bàn tỉnh Dak Lắk đã có những nghiên cứu về đánh giá thích nghi đất đai, trong đó một số nghiên cứu đã bước đầu thực hiện đánh giá đất theo quan điểm bền vững (thích nghi dat đai có xem xét đến các khía cạnh thích hợp và bền vững đồng thời về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường). Riêng đối với địa bàn huyện Ea Súp, hiện nay các nghiên cứu đánh giá đất mới chỉ được thực hiện lồng ghép trong các đề tài đánh giá đất toàn tỉnh, mà chưa có một nghiên cứu đánh giá riêng cho huyện.
Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, đánh giá thích nghỉ đất đai trên cơ sở xem xét đồng thời thích nghỉ tự nhiên, đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Ea Súp. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp đữ liệu về khả năng thích nghi đất đai bền vững (thích hợp về tự nhiên, đảm bảo hiệu quả kinh tế, sự chap nhận vê xã hội và bên vững vê môi trường) cho quá trình xây dựng phương án sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện, góp phần sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và phát triển bền vững. Dat đai và đất nông nghiệp 1. Khái niệm Đất đai (Land): Theo Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý đất đai là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu ky dự đoán được trong khu vực sinh khí quyền theo chiều thang từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất, lớp địa chất, nước, quân thẻ thực vật và động vật, kết quả của những hoạt động bởi con người.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường: Dat dai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, điện tích cụ thé và có các thuộc tính tương đối ồn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tài liệu lao động vừa là đối tượng lao động, và đặc biệt không thê thay thế được của ngành nông- lâm nghiệp, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất. Đất nông nghiệp tham gia vào các ngành sản xuất lương thực, thực phẩm như ngành thủy sản, ngành trồng trọt, chăn nuôi. Phân loại sử dụng dat dai và đất nông nghiệp Theo Điều 10 Luật đất đai 2013, đất đai và đất nông nghiệp được phân loại như sau: Đất đai được chia thành 03 nhóm: Nông nghiệp, phi nông nghiệp và chưa sử dụng.
Trong mỗi nhóm đất sẽ phân thành nhiều loại đất cụ thé. Đất nông nghiệp bao gồm 8 loại đất: (1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (2) Dat trồng cây lâu năm; (3) Đất rừng sản xuất; (4) Dat rừng phòng hộ: (5) Đất rừng đặc dụng: (6) Đất nuôi trồng thủy sản; (7) Đất làm muối; (8) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kế cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuông trại chăn nuôi gia suc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; 1. Vai trò, nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất. Dat đai là điều kiện rất cần thiết dé con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người.
Dat đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thé đất đai có vi trí khác nhau. Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt. Đất dai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thé thay thế.
Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Dat đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới,.để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển. Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động. Con người sử dụng đất đai đề trồng trọt và chăn nuôi.
Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp. Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai. Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cầu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng.
Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ôn định kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo,. còn có nhiều vai trò quan trọng khác. Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn, là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gen quý hiếm.
Ngoài ra, đất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ồn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phat triển du lịch,. Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất. Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013).
Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam Điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhiều khó khăn, với nhiều rủi ro (bão, lụt, hạn hán, sâu bệnh,.) làm cho năng suất, chất lượng cây trồng thấp và không ổn định. Do vậy, cần có những cơ cấu giống cho phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng cụ thê theo nguyên tắc “đất nào cây ấy”. Cơ cấu cây trồng ở nước ta đã được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi năng suất lúa Chiêm bình quân toàn miền Bắc chỉ đạt 13,61 tạ/ha, các nhà khoa học đã nghiên cứu đưa vụ lúa Xuân trở thành vụ chính, thay thế vụ lúa Chiêm. Đến năm 1971, diện tích lúa Xuân ở đồng bằng sông Hồng vượt lúa Chiêm, với năng suất bình quân 31,9 tạ/ha.
Ngoài ra cùng với vụ lúa Xuân là sự ra đời của vụ Đông với các giống cây trồng có nguồn gốc ôn đới. Từ đó đã đưa ra công thức luân canh lúa Xuân - lúa Mùa - vụ Đông hoặc màu Xuân - lúa Mùa - vụ Đông đạt hiệu quả cao.