CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu Ngành Ngân hàng Việt Nam tăng trưởng nhanh về số lượng và cả quy mô tài sản trong giai đoạn 2006-2010. Số lượng ngân hàng Việt Nam và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã tăng từ 78 (2006) lên thành 100 (2010); tổng tài sản ngân hàng tăng gấp đôi lên 2.690 nghìn tỷ đồng (2010) so với 1.097 nghìn tỷ đồng (2007). Mặc dù thị trường tài chính thế giới bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nhưng các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận tốt, cụ thể trung bình tăng trưởng của 8 NHTM hàng đầu là 46% (2008), 59% (2009) và 31% (2010). Tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động của Việt Nam luôn ở mức cao trên 20% trong suốt giai đoạn 2000-2010 (Quách Thùy Linh, 2011, tr.
Sau một thời gian tăng trưởng nóng, hệ thống NHTM đã bộc lộ những yếu kém, dễ tổn thương như mất thanh khoản, cạnh tranh về lãi suất và huy động tiền gửi vượt trần lãi suất, lãi suất liên ngân hàng tăng đột biến có những thời điểm lên đến 35%-40%, vỡ nợ tín dụng đen…Trong bối cảnh bùng phát về tín dụng và sở hữu chéo thì nợ xấu đã ra đời và ngày càng gia tăng gây nguy hại cho nền kinh tế. Theo Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, tỉ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng là 6,6%/ tổng dư nợ tín dụng (12/2012). Mặt khác, sự yếu kém về quản trị và quản lý rủi ro khiến cho hoạt động của các ngân hàng này chưa hiệu quả. Điển hình vào năm 2010, NHTMCP Sài Gòn (SCB) có nợ xấu cao nhất toàn hệ thống 11,4%, cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 1,76% và cao hơn mức đảm bảo an toàn của toàn hệ thống là 3%1.
Còn NHTMCP Nhà Hà Nội (HBB), phải gánh chịu nợ xấu từ Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin) và đến nay vẫn chưa thể thu hồi phần vốn. Hệ thống ngân hàng có chức năng là trung gian tài chính, cung cấp vốn cho cả nền kinh tế nên có tác động lớn đến sự phát triển của nền kinh tế và ổn định xã hội. Nếu khủng hoảng 1 Quy định tại thông tư 13/2010/TT-NHNN 2 Chỉ thị số 01/CT-NHNN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- ngân hàng xảy ra sẽ gây suy thoái cho nền kinh tế. Do đó, các nước trên thế giới đã xử lý các ngân hàng yếu kém một cách quyết liệt và không để xảy ra đổ vỡ hàng loạt bằng các biện pháp như hỗ trợ thanh khoản, M&A, quốc hữu hóa ngân hàng tư nhân rồi sau đó thoái vốn, thu hút vốn từ cổ đông bên ngoài, giám sát chặt chẽ đối với ngân hàng yếu kém… Mô hình tái cấu trúc ngân hàng thành công từ Hàn Quốc là một ví dụ.
Đứng trước thực tế đó, tháng 03/2012, đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011- 2015 ra đời, với mục tiêu cơ cấu lại cơ bản và toàn diện hệ thống các TCTD. Trong đó tập trung lành mạnh hóa tình hình tài chính và củng cố hoạt động của các TCTD, hướng tới cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các TCTD. Quan điểm cơ cấu lại là không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Quá trình cơ cấu lại các TCTD sẽ hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và chi phí của ngân sách nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, 2012, tr.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai đề án và xác định 9 NHTMCP yếu kém cần được tái cấu trúc. Đó là NHTMCP Tiên Phong (TP Bank), Phương Tây, HBB, Đại Tín, SCB, Đệ Nhất, TNB, Dầu Khí Toàn cầu (GP bank), Navibank. Để xử lý các ngân hàng yếu kém, đề án đưa ra quan điểm khuyến khích các ngân hàng mua bán sáp nhập (M&A). Sau hơn hai năm triển khai, đến nay đã có 8/9 ngân hàng đã có phương án xử lý mà chủ yếu thông qua hình thức M&A.
Tuy nhiên, hiệu quả đạt được còn hạn chế và nhiều khó khăn đã xuất hiện như minh bạch thông tin còn nhiều bất cập; lợi ích nhóm và sở hữu chéo chưa được kiểm soát; xung đột văn hóa công ty xuất hiện; hệ thống thể chế chưa hoàn thiện…Vấn đề chính sách đặt ra ở đây là liệu giải pháp M&A mà Việt Nam đang sử dụng có phù hợp và giúp các ngân hàng yếu kém đạt được mục tiêu của tái cấu trúc hay không? 1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Trước bối cảnh và vấn đề chính sách trên, nghiên cứu sẽ tìm hiểu các vấn đề cần xử lý của các NH yếu kém trước khi tái cấu trúc và tập trung đánh giá kết quả của các ngân hàng yếu kém sau M&A giai đoạn 2011-2014, nhằm xem xét khả năng đạt được mục tiêu cơ cấu lại các ngân hàng này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp chính sách hữu hiệu để các ngân hàng yếu kém đạt được mục tiêu tái cấu trúc. Với mục tiêu trên, đề tài được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Thứ nhất, các ngân hàng yếu kém cần xử lý các vấn đề gì? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- Thứ hai, giải pháp M&A có giúp các ngân hàng yếu kém đạt mục tiêu tái cấu trúc ngân hàng? 1.3 Phương pháp, phạm vi nghiên cứu và nguồn thông tin Đề tài sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu và dựa trên các số liệu thứ cấp, nghiên cứu tình huống để củng cố luận điểm. Nghiên cứu tiến hành phân tích những khó khăn của hệ thống ngân hàng và đặc biệt là 9 NHTM yếu kém thuộc diện bắt buộc tái cấu trúc theo quy định của NHNN trước khi M&A.
Mục tiêu, lộ trình và các công cụ mà đề án cơ cấu lại các TCTD đặt ra và sử dụng, trong đó, M&A là biện pháp mà NHNN lựa chọn để tái cấu trúc. Nghiên cứu dựa trên phân tích đối chiếu bối cảnh và cách thức xử lý các ngân hàng yếu kém của Việt Nam giai đoạn trước với thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm. Đồng thời, trên cơ sở phân tích và đánh giá các ngân hàng yếu kém sau khi M&A, nghiên cứu rút ra dự đoán về khả năng đạt được mục tiêu cơ cấu lại của các ngân hàng này hay không. Từ đó nghiên cứu đưa ra kết luận và khuyến nghị chính sách phù hợp.
Các thông tin của bài viết chủ yếu được lấy từ báo cáo tài chính (BCTC), báo cáo thường niên của các NHTM trong giai đoạn 2009 -2013, và các số liệu khác được tổng hợp từ báo cáo, sách, tạp chí, internet.4 Kết cấu đề tài Tiếp theo Chương đầu tiên, Chương 2 sẽ đưa ra cơ sở lý thuyết và khung phân tích cho nghiên cứu. Chương này sẽ giúp làm rõ về các vấn đề cơ cấu lại ngân hàng, giải pháp M&A, các quy định pháp lý và mục tiêu tái cấu trúc hệ thống TCTD; và một số bài học kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam về cơ cấu lại ngân hàng bằng sáp nhập. Chương 3 tập trung vào đánh giá khả năng đạt được mục tiêu tái cấu trúc đối với các ngân hàng. Cuối cùng, trong Chương 4, nghiên cứu sẽ đề xuất các khuyến nghị chính sách để thực hiện thành công mục tiêu tái cấu trúc.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 2.1 Những khó khăn của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2012 Sau thời gian tăng trưởng nóng, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ nhiều rủi ro yếu kém gây ra mất an toàn hệ thống và ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô. Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống tăng cao Nợ xấu là mối quan tâm lớn nhất của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này. Sự tăng trưởng tín dụng liên tục và cạnh tranh mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2001 – 2012 tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động của cả hệ thống. Theo số liệu của NHNN, nợ xấu có xu hướng tăng nhanh, nợ xấu năm 2011 là 3,1 %, đã tăng vọt lên 8,86% vào ngày 30/9/2012, tương ứng với tốc độ tăng nợ xấu là 211%.
Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu vẫn chưa có một con số thống kê đầy đủ và chính xác. Bởi vì một số ngân hàng không đảm bảo minh bạch trong báo cáo nợ xấu. Biểu đồ 2-1 : Tỷ lệ nợ xấu và Tốc độ tăng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam Nguồn:NHNN Nhóm lợi ích và sở hữu chồng chéo gây rủi ro cao Sau giai đoạn TTCK, bất động sản bùng nổ vào năm 2006 – 2007, sở hữu của các doanh nghiệp với các NHTM càng tăng cao do ngân hàng thực hiện hai chức năng vừa huy động, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- vừa tài trợ cho các đơn vị chủ sở hữu. Thông qua đó, một lượng vốn lớn được đổ vào bất động sản.
Khi thị trường bất động sản đóng băng, lượng vốn này có nguy cơ mất thanh khoản và trở thành nợ xấu. Bên cạnh đó, bức tranh sở hữu chéo trở nên phức tạp hơn khi một số ngân hàng có cả sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, DNNN, NHTM. Điều này tạo thêm nhiều khó khăn trong công tác quản lý và giám sát. Theo Luật các TCTD (2010) quy định NHTM có thể dùng tối đa 11% VĐL và các khoản dự trữ để mua cổ phần và góp vốn tại các TCTD.
Do đó, pháp luật Việt Nam không cấm mà chỉ giới hạn sở hữu chéo. Sau các mốc quy định về tăng VĐL lên 1.000 tỷ (2010), các ngân hàng liên kết với nhau để đáp ứng các yêu cầu về vốn tối thiểu. Kết quả là sở hữu chéo càng trở nên phức tạp. Quy mô vốn điều lệ thấp và kết quả kinh doanh bị suy giảm Sau Nghị định 141/2006/NĐ-CP, các NHTM phải chịu áp lực tăng vốn và đáp ứng mức VĐL tối thiểu 3.000 tỷ vào cuối năm 2010.
Nghị định này được gia hạn đến hết ngày 31/12/2011 theo Nghị định số 10/2011/NĐ-CP. Đến hết thời hạn trên nhưng vẫn có 3 NHTM không thể tăng VĐL đủ để đáp ứng vốn pháp định. Đó là NHTMCP Bảo Việt, Xăng Dầu Petrolimex và Sài Gòn Công Thương. Nhiều NHTM và đặc biệt là các ngân hàng nhỏ khác phải đứng trước áp lực tăng vốn.
Đây là một trong số nguyên nhân khiến cho chạy đua lãi suất diễn ra mạnh mẽ. Hệ thống ngân hàng còn tồn tại sự mất cân đối về cơ cấu VĐL khi 15 NHTM lớn nhất lại chiếm đến 76% VĐL của toàn hệ thống.