Đặt vấn đề Hiện nay, cây Keo Lai được trồng và phát triển ngày càng nhiều tại khu vực rừng U Minh Hạ. Với khả năng cho sinh khối gỗ cao và có hiệu quả kinh tế hơn cây tràm, vì thế diện tích trồng Keo Lai ngày càng lan rộng. Với ưu điểm có khả năng cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ và tỏ ra có hiệu quả kinh tế cao hơn cây tràm, cây Keo Lai đã mở ra hướng thu nhập và cải thiện đời sống cho cư dân trong vùng. Trước đây, rừng trồng trên lâm phần U Minh Hạ chủ yếu là cây tràm cừ bản địa.
Qua các chu kỳ khai thác cây tràm cho thấy kém hiệu quả do chu kỳ khai thác dài và năng suất không cao, giá trị sinh lời trên một đơn vị diện tích so với một số loài cây trồng khác thấp hơn. Vì thế nhiều đơn vị lâm nghiệp ở tỉnh Cà Mau đã đưa cây Keo Lai vào trồng trên đất rừng U Minh Hạ, vừa rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vừa cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy việc trồng cây Keo Lai có ưu điểm hơn cây tràm bản địa, đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho một số người làm nghề rừng, nhưng trên vùng đất trồng cây Keo Lai qua thời gian cho thấy đã có biểu hiện xấu làm cho môi trường bị giảm cấp, nhất là chất lượng nước trong kênh mương bị ô nhiễm phèn tác động việc lên liếp và vật rụng từ đó ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và sinh kế của nông hộ. Vấn đề này đã trở thành mối quan ngại cho nhà quản lý và người dân đang sinh sống trong khu vực.
Như vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để cân bằng giữa việc sử dụng các giá trị của cây Keo Lai và môi trường, cũng như cần nghiên cứu xác định được nguyên nhân cụ thể tác động đến môi trường, trong đó chất lượng nước đóng vai trò cầu nối cho sự đa dạng sinh học trong vùng, đặc biệt là nguồn lợi cá đồng. Chính vì thế đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc trồng Keo Lai [Acacia spp (hybrid)] đến chất lượng nước tại khu vực rừng U Minh Hạ” được thực hiện.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Khảo sát và đánh giá sự thay đổi một số tính chất nước trong khu vực đất trồng cây Keo Lai làm cơ sở xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng từ đó đề ra giải pháp sử dụng đất trồng Keo Lai có hiệu quả kinh tế và bền vững về môi trường tại khu vực rừng U Minh Hạ.2 Mục tiêu cụ thể - Khảo sát và đánh giá sự thay đổi một số tính chất nước giữa khu vực đất trồng cây Keo Lai so với đất trồng tràm tại hệ sinh thái rừng U Minh Hạ, Cà Mau. - Nghiên cứu xác định nguyên nhân thay đổi một số tính chất hóa học nước và mức độ ảnh hưởng đến môi trường trong mương liếp trồng Keo Lai. - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp khắc phục và quản lý kiểu sử dụng đất trồng Keo Lai tại khu vực rừng U Minh Hạ, Cà Mau.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào một số tính chất nước trong khu vực rừng trồng cây Keo Lai và rừng trồng tràm tại rừng U Minh Hạ, Cà Mau.2 Phạm vi nghiên cứu Khu vực rừng trồng cây Keo Lai và rừng tràm trong hệ sinh thái rừng U Minh Hạ, Cà Mau.
Giới hạn của đề tài là chỉ tập trung khảo sát về tính chất nước. Để đánh giá được ảnh hưởng của sự tác động đến môi trường nước trong mương liếp đề tài đã tham khảo và kế thừa một số số liệu có liên quan đến chất lượng nước như: sinh vật thủy sinh và nguồn lợi cá đồng của các cộng sự trong cùng dự án.3 Địa điểm nghiên cứu Đề tài được tiến hành trên 3 khu vực đại diện cho 3 điều kiện sinh thái tự nhiên khác nhau. Bao gồm: - Khu vực 1: Khu vực có trồng cây Keo Lai trên nhóm đất phèn hoạt động nông tại xã Khánh Thuận, huyện U Minh (thuộc Công ty lâm nghiệp Thúy Sơn), Cà Mau. - Khu vực 2: Khu vực có trồng cây Keo Lai trên nhóm đất phèn hoạt động sâu tại xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời (Trạm NC Kênh Đứng, TTNCTN Tây Nam Bộ), Cà Mau.
- Khu vực 3: Khu vực hoàn toàn không có trồng Keo Lai (trồng Tràm bản địa) được chọn làm đối chứng là vùng đất không bị tác động của việc canh tác cây Keo Lai tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ (vùng lõi Vườn Quốc Gia U Minh Hạ, Cà Mau). 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về cây Keo Lai 2.1 Thông tin chung về cây Keo Lai Keo Lai là tên gọi của giống Keo được lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo Lai này được Messrs Herburn và Shim phát hiện đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia. Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo Lai có mức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ.
Đến tháng 7 năm 1978 Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và keo lá tràm (Lê Đình Khả, 1999). Keo Lai có nhiều đặc điểm hình thái giữa bố và mẹ, có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng, hiệu suất bột giấy, độ bền và độ trắng của giấy, có khả năng cố định đạm nhờ các nốt sần ở hệ rễ (Bộ NN và PTNN, 2007). Giống Keo Lai được Hepburn and Shim phát hiện đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook. Ở Việt Nam, Keo lá tràm và Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những năm 1960 nhưng mãi đến những năm 90 thì Keo Lai tự nhiên được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng phát hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992.
Theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành thêm nhiều nghiên cứu về cải thiện một số giống Keo Lai. Đặc điểm hình thái của Keo Lai là thân thẳng hơn Keo Lá Tràm và tròn hơn Keo Tai Tượng, cành nhánh nhỏ và có khả năng tự tỉa cành cao hơn. Vỏ thân có màu nâu nhạt, mặt vỏ mịn hơn vỏ thân Keo Tràm, tán lá phát triển tốt, lá Keo Lai thường lớn hơn lá Keo Lá Tràm và nhỏ hơn lá Keo Tai Tượng, bề rộng lá từ 4-6 cm, dài 15-20 cm có gân trừ gân nằm mép lá là không hiện rõ, lá có màu xanh lục nhạt hơn lá Keo Tai Tượng và không bị úa vàng vào dịp rét. Hoa có màu kem đến màu trắng sắp xếp thẳng dài từ 4-10 cm.
Mùa ra hoa vào tháng 7, tháng 11. Keo Lai là loài ít quả và hạt bị biến tính không mang đặc tính trội của bố mẹ. Keo Lai sinh trưởng, phát triển tốt ở 3 nhiệt độ tối cao từ 26-34oC và tối thấp từ 12-14oC. Mọc tốt trên đất có độ pH từ 3 - 7, phân bố ở độ cao 800m so với mặt nước biển.
Cây cao đến 25-30 m, đường kính có thể đến 60-80 cm (Lê Đình Khả, 1999).2 Diện tích trồng Keo Lai Theo thống kê của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2014) diện tích rừng trồng các loài Keo (Acacia) ở Việt Nam hiện nay là khoảng 900.000 ha, cung cấp 90% trong tổng số 5,4 triệu tấn gỗ dăm xuất khẩu vào năm 2011 và đạt trị giá khoảng 650 triệu đô la Mỹ, trong đó 300 triệu đô la là lợi nhuận của người trồng rừng. Vì thế, việc nghiên cứu và phát triển các loài Keo phục vụ cho trồng rừng, chế biến xuất khẩu gỗ và các ngành công nghiệp liên quan có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là các mục tiêu quốc gia như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nâng cao độ phì đất, giảm thiểu phát thải và tăng nguồn dự trữ carbon. Tổng diện tích rừng tràm U Minh Hạ có khoảng 75.000 ha nhưng chỉ có khoảng 38.000 ha là có tràm che phủ. Bên cạnh đó là giá trị về kinh tế của cây tràm không cao chính vì thế mà tỉnh đã bắt đầu trồng cây Keo Lai từ năm 2010 và đầu năm 2015 đã khai thác khoảng 1.
Tính đến năm 2015 diện tích trồng Keo Lai của tỉnh đạt gần 8.000 ha và mục tiêu sẽ là 20.2 Tình hình nghiên cứu về cây Keo Lai 2.1 Trên thế giới Năm 1988, ACIAR phê duyệt kinh phí cho một dự án với đề tài “Lai giống và nhân giống vô tính của cây Keo nhiệt đới Australia”, do cây Keo là một chi của một số loài cây thân bụi đại diện cho số lượng lớn các loài ở Úc. Dự án được thực hiện bởi các nhà khoa học đến từ CSIRO-FFP và phối hợp với Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia. Một trong những mục tiêu của nghiên cứu là cải thiện khả năng thương mại của ngành công nghiệp trồng rừng của Malaysia bằng các phương pháp phát triển giống Keo Lai có năng suất cao hơn so với các loài Keo truyền thống ở vùng nhiệt đới. Mặc dù mục tiêu ban đầu của dự án là dành cho Malaysia nhưng sau đó được lan tỏa và phát triển đến Việt Nam.
Với lợi nhuận kinh tế cao từ Keo Lai mang lại nên nó nhanh chóng trở thành cây trồng trên quy mô thương mại. Kết quả đánh giá dự án cho thấy, Keo Lai sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, đồng thời nó cũng thích hợp trên loại đất nghèo dinh dưỡng (ACIAR, 2004). Nghiên cứu về hình thái cây Keo Lai có thể kể đến các công trình nhiên cứu của Rufelds (1988); Gan.E và Sim Boom Liang (1991), nhóm tác giả đã 4 chỉ ra rằng: Keo Lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn keo Tai Tượng nhưng muộn hơn Keo Lá Tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo Lá Tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 - 5, Keo Tai Tượng thường xuất hiện ở lá 8 - 9 còn ở Keo Lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6.
Bên cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo Tai tượng và Keo Lá Tràm ở bộ phận sinh sản (Bowen, 1981). Trong những năm 1980, các loài Keo đã được đưa vào trồng thí nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao.