Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn trước năm 2013, mạng lưới giao thông đường bộ Việt Nam phải đối mặt với áp lực quá tải và tình trạng suy thoái hạ tầng nghiêm trọng khi nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm chỉ đáp ứng được khoảng 20% đến 29% nhu cầu bảo trì thực tế theo đề xuất của Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Nguồn kinh phí dành cho công tác duy tu, sửa chữa hệ thống quốc lộ khi đó chỉ tương đương 11% tổng nguồn vốn chi cho đầu tư xây dựng cơ bản và mở mới tuyến đường, dẫn đến việc nhiều công trình trọng điểm bị xuống cấp cục bộ ngay sau khi đưa vào khai thác. Nhằm giải quyết điểm nghẽn tài chính mang tính cơ cấu này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 18/2012/NĐ-CP thành lập Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương, chính thức đi vào vận hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2013.

Luận văn tập trung đánh giá toàn diện tác động của Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương đối với phân ngành bảo trì mạng lưới đường bộ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ hệ thống quốc lộ và mạng lưới đường địa phương thuộc 63 tỉnh, thành phố trong khung thời gian 5 năm, từ năm 2010 đến hết năm 2014. Nghiên cứu thực hiện phân tích so sánh chuyên sâu giữa hai giai đoạn bản lề: giai đoạn 2010 - 2012 phụ thuộc hoàn toàn vào cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước truyền thống và giai đoạn 2013 - 2014 vận hành theo cơ chế quỹ tài chính chuyên biệt huy động trực tiếp từ phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện cơ giới.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu được thể hiện rõ qua việc đo lường các chỉ số tăng trưởng nguồn vốn và hiệu quả khai thác hạ tầng. Sự ra đời của Quỹ đã tạo bước đột phá khi tăng tổng mức vốn đầu tư bảo trì năm 2014 lên mức 7.207 tỷ đồng, tăng trưởng 308% so với mốc 2.342 tỷ đồng của năm 2010. Công trình không chỉ cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về việc nâng cao tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vốn từ dưới 30% lên mức 40% đến 60%, mà còn khẳng định vai trò then chốt của cơ chế tài chính độc lập trong lộ trình xã hội hóa dịch vụ công, kéo dài tuổi thọ khai thác và đảm bảo an toàn giao thông cho hơn 339.223 km đường bộ trên phạm vi toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quỹ đường bộ thế hệ thứ hai được phát triển bởi các chuyên gia kinh tế quốc tế hàng đầu như Ian Heggie, Piers Vickers và Kenneth Gwilliam dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thế giới. Khác với mô hình quỹ thế hệ thứ nhất mang tính thụ động và phụ thuộc hoàn toàn vào phân bổ ngân sách chung, mô hình thế hệ thứ hai vận hành dựa trên nguyên tắc thương mại hóa quản lý đường bộ: người sử dụng dịch vụ trực tiếp chi trả phí, nguồn thu được quản lý tập trung độc lập ngoài ngân sách và có sự tham gia giám sát của đại diện cộng đồng doanh nghiệp vận tải. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình phân tích tối ưu hóa phân bổ vốn đa tiêu chí của Odoki và Boamah, kết hợp cùng lý thuyết chi phí vận hành phương tiện nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa chất lượng bề mặt đường và hiệu quả kinh tế của các phương tiện lưu thông.

Khung phân tích của đề tài làm rõ 4 khái niệm chuyên ngành then chốt: bảo trì thường xuyên nhằm duy trì trạng thái kỹ thuật liên tục hàng ngày; bảo trì định kỳ bao gồm các dự án sửa chữa vừa và sửa chữa lớn theo chu kỳ khai thác; thương mại hóa công tác bảo trì thông qua cơ chế đấu thầu cạnh tranh; và xã hội hóa nguồn lực tài chính công. Kinh nghiệm quốc tế từ 55 quốc gia đã thành lập quỹ đường bộ trên thế giới, tiêu biểu như trường hợp nghiên cứu tại Sri Lanka với mức chi bảo trì chỉ đạt khoảng 0,0031% GDP hay mô hình quỹ hai cấp tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, đã cung cấp cơ sở so sánh chuẩn mực để đánh giá mô hình thể chế tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp và điều tra dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo kiểm toán chuyên đề của Kiểm toán Nhà nước, các niên giám và báo cáo tài chính của Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Đường bộ Việt Nam và Văn phòng Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương trong giai đoạn 5 năm từ 2010 đến 2014. Dữ liệu được chia thành hai giai đoạn để đối sánh định lượng: giai đoạn 1 từ 2010 đến 2012 (3 năm trước khi thành lập Quỹ) và giai đoạn 2 từ 2013 đến 2014 (2 năm đầu vận hành Quỹ).

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp phỏng vấn sâu nhằm thu thập ý kiến chuyên sâu từ 3 nhóm chủ thể liên quan trực tiếp. Nhóm 1 gồm các nhà quản lý hoạch định chính sách cấp cao từ Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Tổng cục Đường bộ và Thường trực Hội đồng Quỹ. Nhóm 2 gồm đại diện 3 doanh nghiệp xây lắp và đơn vị tư vấn giám sát hiện trường. Nhóm 3 gồm lãnh đạo Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam cùng mẫu khảo sát gồm 50 người dân sinh sống tại 9 tỉnh đại diện cho các vùng miền kinh tế gồm Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Thái Nguyên, Bạc Liêu và An Giang. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích này nhằm kết hợp giữa việc kiểm chứng dữ liệu tài chính vĩ mô từ cơ quan quản lý với việc đánh giá trải nghiệm thực tế của các nhà thầu thi công và người dân hưởng lợi trực tiếp tại các địa bàn có ngân sách khó khăn. Toàn bộ thông tin định tính và định lượng được tích hợp để thực hiện phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho định hướng phát triển giai đoạn 2015 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sự ra đời của Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương đã tạo ra bước nhảy vọt về quy mô dòng vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông. Trong 3 năm từ 2010 đến 2012, tổng kinh phí bố trí cho mạng lưới quốc lộ chỉ dao động từ 2.342 tỷ đồng đến 3.671 tỷ đồng mỗi năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 11% mỗi năm và bị triệt tiêu phần lớn do chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng cao (đạt 18% trong giai đoạn 2010 - 2011). Ngay khi Quỹ chính thức hoạt động năm 2013, tổng số thu từ phí phương tiện đã đạt xấp xỉ 5.800 tỷ đồng, bố trí cho quốc lộ 4.777 tỷ đồng và đường địa phương 1.400 tỷ đồng. Đến năm 2014, tổng nguồn vốn bảo trì giải ngân trên toàn quốc đã tăng lên 7.207 tỷ đồng, tăng trưởng 308% so với năm 2010, qua đó nâng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vốn thực tế từ 20% - 29% lên mức 40% đến 60%.

Thứ hai, cơ chế tài chính mới đã thúc đẩy cải cách mạnh mẽ phương thức quản trị và xóa bỏ thế độc quyền giao thầu truyền thống. Trước năm 2012, công tác bảo trì phụ thuộc vào việc đặt hàng nội bộ hoặc chỉ định cho các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc các Khu Quản lý đường bộ. Sau khi có nguồn vốn bảo đảm từ Quỹ, Bộ Giao thông vận tải đã chuyển đổi hoàn toàn sang hình thức đấu thầu công khai rộng rãi với 489 dự án trong năm 2013 và 529 dự án trong năm 2014 được phê duyệt trúng thầu. Cơ chế này đã thu hút hàng loạt công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn tham gia, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, tiết giảm dự toán kinh phí và nâng cao chất lượng công trình.

Thứ ba, nguồn vốn ổn định từ Quỹ đã tạo đòn bẩy đột phá cho việc chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại. Trước năm 2013, công tác duy tu chủ yếu thực hiện thủ công như chắp vá ổ gà thiếu đầm nén chuẩn hay nấu nhựa đường bằng củi tại chỗ gây ô nhiễm môi trường. Từ năm 2013, Quỹ đã bố trí kinh phí thử nghiệm công nghệ mới, dẫn đến việc vào tháng 9 năm 2014, Bộ Giao thông vận tải đã chính thức phê duyệt áp dụng công nghệ cào bóc tái sinh nguội mặt đường trên 9 trong số 17 tuyến quốc lộ trọng điểm, kết hợp giải pháp bọc sợi carbon gia cố kết cấu dầm cầu và thảm bê tông nhựa nguội Carboncor Asphalt giúp tiết kiệm 15% đến 20% chi phí vật liệu và kéo dài vòng đời công trình.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu khẳng định việc chuyển đổi từ cơ chế phân bổ ngân sách thụ động sang cơ chế quỹ tài chính chuyên biệt là một quyết sách hoàn toàn đúng đắn, thích ứng hoàn hảo với đặc thù kinh tế xã hội Việt Nam nơi 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế cá thể khiến việc huy động thuế tổng hợp cho phúc lợi giao thông gặp nhiều rào cản. Cơ chế thu phí trực tiếp từ đầu phương tiện cơ giới đã tạo dựng niềm tin xã hội vững chắc, biến đóng góp của người dân thành hạ tầng giao thông êm thuận, giảm hao mòn phương tiện và tiết kiệm thời gian vận chuyển hàng hóa.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp trên biểu đồ so sánh dòng vốn giai đoạn 2010 - 2014 và bảng cân đối nhu cầu vốn đã minh họa rõ nét khoảng cách thiếu hụt tài chính đang dần được thu hẹp. Dù tổng nhu cầu vốn năm 2014 do Tổng cục Đường bộ đề xuất lên tới 12.995 tỷ đồng và nguồn cấp thực tế mới đạt 5.458 tỷ đồng (vẫn còn khoảng cách thiếu hụt 7.537 tỷ đồng), nhưng tính thanh khoản cao và tiến độ giải ngân kịp thời của Quỹ đã giải quyết triệt để tình trạng sửa chữa chắp vá, manh mún kéo dài nhiều năm. So sánh với các bài học kinh nghiệm quốc tế tại Ghana hay Sri Lanka, việc Việt Nam áp dụng tỷ lệ điều tiết nguồn thu cố định (65% cho Quỹ Trung ương và 35% bổ sung cho Quỹ địa phương, riêng phí xe máy giữ lại 100% cho cấp tỉnh) đã hỗ trợ thiết thực cho các địa phương nghèo có nguồn thu ngân sách thấp, tạo sự phát triển đồng bộ cho cả mạng lưới giao thông huyết mạch lẫn hệ thống giao thông nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng và ma trận phân tích thể chế, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện và phát triển bền vững Quỹ Bảo trì đường bộ trong giai đoạn tới:

Một là, mở rộng và đa dạng hóa nguồn thu tài chính ngoài phí phương tiện cơ giới trong kế hoạch 5 năm giai đoạn 2015 - 2020. Bộ Giao thông vận tải cần phối hợp với các tổ chức tư vấn quốc tế xây dựng đề án thu phí thuê hạ tầng giao thông đường bộ đối với hệ thống cột điện lực, đường ống cấp thoát nước và mạng lưới cáp quang viễn thông lắp đặt dọc hành lang an toàn quốc lộ. Nguồn thu bổ sung này ước tính sẽ gia tăng từ 15% đến 25% tổng thu hàng năm cho Quỹ.

Hai là, thể chế hóa điều khoản bảo hành bảo trì bắt buộc trong hợp đồng xây dựng công trình giao thông. Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải cần ban hành quy định yêu cầu tất cả các dự án đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp cải tạo quốc lộ phải tích hợp điều khoản ràng buộc nhà thầu chịu trách nhiệm bảo hành, bảo trì toàn diện tối thiểu 5 năm sau khi bàn giao nghiệm thu đưa vào khai thác, nhằm giảm tải áp lực chi thường xuyên cho Quỹ trong những năm đầu vận hành tuyến đường.

Ba là, chuẩn hóa mô hình Quỹ Bảo trì đường bộ địa phương trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Hội đồng Quỹ Trung ương cần phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới để triển khai đồng bộ hệ thống phần mềm quản lý tài sản đường bộ, thống nhất quy trình lập kế hoạch và giám sát thu chi liên thông từ Trung ương đến địa phương, đồng thời minh bạch hóa công thức phân bổ 35% nguồn thu dựa trên chỉ số chiều dài mạng lưới và lưu lượng xe thực tế.

Bốn là, hoàn thiện khung pháp lý và chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ nộp phí bảo trì đường bộ. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công an ban hành thông tư hướng dẫn kiểm tra, kiểm soát và áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các phương tiện trốn tránh nộp phí, đặc biệt tập trung siết chặt công tác thu phí đối với nhóm đối tượng xe mô tô hai bánh tại địa bàn cấp xã, phường.

Năm là, xây dựng cơ chế tiền lương và phụ cấp trách nhiệm đặc thù cho đội ngũ 10 cán bộ chuyên trách tại Văn phòng Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương. Mức đãi ngộ cần tương xứng với quy mô dòng vốn quản lý hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm nhằm tạo động lực cống hiến chuyên môn và hạn chế tối đa nguy cơ tiêu cực, thất thoát tài chính công.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Hội đồng Quỹ Bảo trì đường bộ các cấp. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học, khung pháp lý hoàn chỉnh và bộ dữ liệu thực tế về vận hành quỹ tài chính công ngoài ngân sách, giúp tối ưu hóa cơ chế điều tiết nguồn thu và nâng cao hiệu quả quản trị tài sản hạ tầng trên phạm vi toàn quốc.

Thứ hai, các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông, nhà thầu thi công xây lắp và các đơn vị tư vấn giám sát. Tài liệu mang đến cái nhìn toàn cảnh về quy trình đấu thầu cạnh tranh với hơn 500 gói thầu mỗi năm, các tiêu chí đánh giá chất lượng thi công, đồng thời cập nhật xu hướng ứng dụng các công nghệ bảo trì mới như cào bóc tái sinh nguội và vật liệu Carboncor Asphalt nhằm nâng cao năng lực trúng thầu.

Thứ ba, các hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp vận tải đường bộ tiêu biểu như Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam. Luận văn phân tích rõ nét bài toán lợi ích kinh tế giữa nghĩa vụ đóng phí bảo trì hàng năm với việc giảm thiểu chi phí tiêu hao nhiên liệu, hạ giá thành bảo dưỡng sửa chữa phương tiện và rút ngắn thời gian hành trình lưu thông trên các tuyến đường đạt chuẩn chất lượng.

Thứ tư, các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế giao thông và Quản trị tài chính công. Đề tài đóng vai trò là một case study điển hình về phương pháp đánh giá tác động chính sách công, ứng dụng mô hình quỹ đường bộ thế hệ thứ hai và kỹ thuật phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu trong quản trị hệ thống hạ tầng quy mô hơn 300.000 km.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương được thành lập dựa trên cơ sở pháp lý nào và vận hành theo mô hình nào? Quỹ được thành lập theo Nghị định số 18/2012/NĐ-CP của Chính phủ dựa trên căn cứ của Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Mô hình vận hành của Quỹ tương ứng với mô hình Quỹ đường bộ thế hệ thứ hai theo chuẩn mực quốc tế, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, thu phí trực tiếp từ đầu phương tiện cơ giới và do Hội đồng Quỹ liên bộ gồm 14 thành viên thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng đại diện doanh nghiệp vận tải quản lý.

Cơ chế phân bổ nguồn thu của Quỹ giữa Trung ương và địa phương được quy định cụ thể ra sao? Theo Thông tư liên tịch số 197/2012/TTLT-BTC-BGTVT, toàn bộ 100% nguồn thu từ phí xe mô tô hai bánh và ba bánh được giữ lại cho Quỹ Bảo trì đường bộ địa phương. Đối với nguồn thu từ phương tiện ô tô, 65% tổng số thu được nộp vào Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương để quản lý, bảo dưỡng hệ thống quốc lộ và 35% được chuyển phân bổ bổ sung cho Quỹ Bảo trì đường bộ tại 63 tỉnh, thành phố nhằm hỗ trợ mạng lưới đường địa phương.

Sự ra đời của Quỹ đã tạo ra bước đột phá nào về nguồn vốn so với thời kỳ phân bổ ngân sách nhà nước trước đây? Trong giai đoạn 2010 - 2012, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được khoảng 20% đến 29% nhu cầu bảo trì thực tế với mức vốn cấp dưới 3.700 tỷ đồng mỗi năm. Sau khi Quỹ đi vào hoạt động, tổng vốn bảo trì bố trí năm 2013 đạt 6.177 tỷ đồng và năm 2014 tăng vọt lên 7.207 tỷ đồng (tăng trưởng 308% so với năm 2010), giúp nâng mức độ đáp ứng nhu cầu bảo trì toàn hệ thống lên 40% đến 60%.

Cơ chế lựa chọn nhà thầu bảo trì đường bộ đã thay đổi như thế nào sau khi thành lập Quỹ? Trước năm 2013, công tác quản lý và bảo trì quốc lộ thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ định kỳ hoặc đặt hàng nội bộ cho các doanh nghiệp nhà nước truyền thống. Sau khi thành lập Quỹ, cơ chế bố trí vốn minh bạch đã cho phép áp dụng triệt để hình thức đấu thầu công khai cạnh tranh với 489 dự án năm 2013 và 529 dự án năm 2014, mở rộng cơ hội tham gia cho các doanh nghiệp cổ phần và tư nhân, giúp hạ giá thành và nâng cao chất lượng thi công.

Việc thành lập Quỹ đã thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ mới trong bảo trì đường bộ như thế nào? Nhờ nguồn vốn giải ngân ổn định từ Quỹ, ngành giao thông đường bộ đã chấm dứt tình trạng sửa chữa chắp vá thủ công lạc hậu. Đến tháng 9 năm 2014, Quỹ đã cấp vốn thử nghiệm thành công và được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt áp dụng công nghệ cào bóc tái sinh nguội trên 9 trong số 17 tuyến quốc lộ, cùng các giải pháp dán sợi carbon gia cố kết cấu cầu và thảm bê tông nhựa nguội Carboncor Asphalt, giúp nâng cao độ bền và tuổi thọ công trình.

Kết luận

  • Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương đã tạo lập bước ngoặt thể chế mang tính lịch sử, chuyển đổi căn bản công tác bảo trì từ cơ chế bao cấp ngân sách thụ động sang cơ chế quỹ tài chính độc lập theo nguyên tắc người sử dụng dịch vụ chi trả.
  • Quy mô dòng vốn đầu tư cho bảo trì đường bộ tăng trưởng vượt bậc 308% trong năm 2014 so với năm 2010, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu hụt tài chính và nâng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vốn toàn hệ thống lên 40% đến 60%.
  • Thể chế đấu thầu cạnh tranh được triển khai thực chất với hơn 1.000 dự án trong hai năm 2013 và 2014, thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thu hút mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công.
  • Đổi mới công nghệ bảo trì đạt bước tiến lớn với việc triển khai thành công công nghệ cào bóc tái sinh nguội trên 9 tuyến quốc lộ trọng điểm, giúp tiết kiệm chi phí vật liệu, nhân công và nâng cao tuổi thọ khai thác của mạng lưới hạ tầng.
  • Khung khuyến nghị chiến lược giai đoạn 2015 - 2020 nhấn mạnh yêu cầu mở rộng nguồn thu từ cho thuê hạ tầng kỹ thuật, áp dụng điều khoản 5 năm bảo hành nhà thầu và chuẩn hóa hệ thống quản trị trên toàn bộ 63 tỉnh thành.

Luận văn khẳng định việc duy trì và hoàn thiện thể chế Quỹ Bảo trì đường bộ là giải pháp chiến lược tối ưu để bảo tồn khối tài sản công trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng của quốc gia. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp xây dựng hạ tầng và các nhà nghiên cứu học thuật hãy tham khảo sâu sắc các phát hiện thực chứng và mô hình phân tích từ công trình này để tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp hiện đại hóa ngành giao thông vận tải Việt Nam.