Đánh giá tác động của công tác giao đất giao rừng đến sự phát triển tài nguyên rừng kinh tế xã hội và môi trường tại xã phương viên huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn

Nghiên cứu chuyên sâu Đánh giá tác động công tác giao đất giao rừng tại Bắc Kạn mang tính hệ thống, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo dục đào tạo

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giao đất giao rừng và vai trò tại xã Phương Viên

Chính sách giao đất giao rừng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò nền tảng trong việc tái cấu trúc ngành lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tại xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, một địa phương có trên 70% diện tích là đồi núi, công tác này mang ý nghĩa chiến lược. Trước khi chính sách được triển khai, tài nguyên rừng đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng do khai thác tự do và tập quán du canh du cư. Rừng và đất rừng chưa có chủ sở hữu thực sự, dẫn đến quản lý lỏng lẻo, làm cạn kiệt tài nguyên và gia tăng diện tích đất trống, đồi núi trọc. Việc triển khai công tác giao đất giao rừng nhằm mục tiêu cốt lõi là xác định rõ chủ thể quản lý, gắn trách nhiệm của người dân với diện tích rừng được giao. Điều này tạo ra động lực mạnh mẽ, khuyến khích các hộ gia đình đầu tư công sức, vốn liếng để bảo vệ và phát triển rừng. Theo tinh thần của Luật Lâm nghiệp Việt Nam và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 163/NĐ-CP, việc giao đất ổn định, lâu dài giúp người dân yên tâm sản xuất, xem rừng là tài sản của mình. Qua đó, chính sách này không chỉ góp phần tăng độ che phủ rừng mà còn trực tiếp cải thiện sinh kế người dân miền núi. Các mô hình kinh tế dưới tán rừng bắt đầu hình thành, tạo việc làm và tăng thu nhập, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Quá trình này được thực hiện với sự tham gia của chính quyền địa phương và cộng đồng, đảm bảo tính công khai, minh bạch, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường.

1.1. Cơ sở pháp lý và mục tiêu của chính sách lâm nghiệp

Công tác giao đất giao rừng tại xã Phương Viên được thực hiện dựa trên một hệ thống văn bản pháp lý chặt chẽ của Nhà nước. Nền tảng pháp lý quan trọng nhất là Luật Lâm nghiệp Việt Nam và Luật Đất đai qua các thời kỳ, đặc biệt là các Nghị định chuyên ngành như Nghị định 02/CP và sau này là Nghị định 163/NĐ-CP. Các văn bản này quy định rõ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Mục tiêu chính là xã hội hóa nghề rừng, biến mỗi người dân thành một chủ rừng thực thụ. Chính sách này nhằm giải quyết tình trạng rừng vô chủ, ngăn chặn phá rừng, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc khai thác tiềm năng đất đai và lao động tại chỗ. Quyền sử dụng đất lâm nghiệp được xác lập rõ ràng thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo cơ sở để người dân yên tâm đầu tư.

1.2. Quá trình triển khai và sự tham gia của cộng đồng

Quá trình giao đất giao rừng tại Phương Viên được triển khai qua nhiều giai đoạn, với sự chỉ đạo của UBND huyện Chợ Đồn và sự thực thi trực tiếp của UBND xã. Các bước thực hiện bao gồm phổ biến chủ trương, thành lập Hội đồng giao rừng cấp xã, tiếp nhận và xét duyệt đơn, thẩm định hồ sơ và bàn giao trên thực địa. Một yếu tố quan trọng quyết định thành công là sự tham gia của cộng đồng. Các buổi họp thôn được tổ chức để người dân thảo luận, thống nhất phương án giao rừng. Theo khảo sát, có tới 83,33% hộ dân tham gia vào các buổi phổ biến chính sách. Sự tham gia này giúp quá trình giao đất diễn ra công khai, minh bạch, hạn chế xung đột đất đai. Thông qua quản lý rừng cộng đồng, người dân không chỉ là đối tượng hưởng lợi mà còn là chủ thể tích cực trong việc giám sát và bảo vệ tài nguyên rừng của chính quê hương mình.

II. Những thách thức trong công tác giao đất giao rừng thực tiễn

Mặc dù mang lại nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai giao đất giao rừng tại xã Phương Viên cũng đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế. Do tập quán canh tác lâu đời và đời sống còn khó khăn, một số hộ chưa thực sự thấy được lợi ích lâu dài từ việc nhận rừng, dẫn đến tình trạng bỏ hoang hoặc sử dụng đất sai mục đích. Năng lực quản lý và kỹ thuật của các hộ nhận rừng còn yếu, thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng các mô hình kinh tế dưới tán rừng hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư cho phát triển lâm nghiệp còn hạn hẹp. Nhiều hộ gia đình thiếu vốn để mua cây giống chất lượng, phân bón và áp dụng khoa học kỹ thuật. Các chính sách hỗ trợ về vốn vay ưu đãi dù đã có nhưng thủ tục tiếp cận còn phức tạp. Một thách thức khác là vấn đề xung đột đất đai. Ranh giới đất lâm nghiệp giữa các hộ, giữa hộ gia đình và đất do UBND xã quản lý ở một số nơi chưa được xác định rõ ràng trên thực địa, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc giải quyết các vướng mắc này là rất quan trọng nhưng đôi khi còn bị động. Công tác theo dõi, kiểm tra sau giao đất chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến việc không nắm bắt kịp thời những khó khăn của người dân và các trường hợp sử dụng đất kém hiệu quả sử dụng đất rừng.

2.1. Hạn chế về nhận thức và tập quán canh tác của người dân

Trình độ dân trí không đồng đều là một khó khăn lớn. Một bộ phận người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn giữ thói quen canh tác du canh, coi rừng là nguồn cung cấp lâm sản sẵn có hơn là một tư liệu sản xuất cần đầu tư lâu dài. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất rừng. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách lâm nghiệp dù được thực hiện nhưng chưa đủ sâu rộng để thay đổi hoàn toàn tư duy sản xuất của họ. Việc chuyển đổi từ khai thác sang trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đòi hỏi thời gian và sự kiên trì, cũng như các chương trình khuyến nông, khuyến lâm hiệu quả hơn để hỗ trợ người dân.

2.2. Khó khăn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho đất lâm nghiệp còn phức tạp và tốn nhiều thời gian. Việc đo đạc, xác định ranh giới trên địa hình đồi núi hiểm trở đòi hỏi kinh phí và kỹ thuật cao. Nhiều hộ gia đình sau khi được giao đất trên thực địa phải chờ đợi một thời gian dài mới nhận được sổ đỏ. Tình trạng này làm giảm sự yên tâm của người dân, khiến họ e ngại trong việc đầu tư lớn vào mảnh đất của mình. Việc thiếu sổ đỏ cũng gây khó khăn khi người dân muốn thế chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp để vay vốn ngân hàng, hạn chế khả năng tái đầu tư và mở rộng sản xuất.

III. Phương pháp giao đất giao rừng giúp phát triển tài nguyên rừng

Tác động rõ rệt nhất của công tác giao đất giao rừng tại xã Phương Viên là sự phục hồi và phát triển tài nguyên rừng. Khi đất rừng có chủ, tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ trái phép đã giảm mạnh. Các hộ gia đình được giao rừng đã chủ động hơn trong việc tuần tra, bảo vệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, diện tích đất có rừng đã tăng lên đáng kể. Cụ thể, diện tích đất trống, đồi núi trọc đã giảm từ 315,73 ha (trước 2010) xuống còn 35,84 ha (năm 2014), một con số ấn tượng. Song song với đó, diện tích rừng trồng mới tăng lên, chủ yếu là các loài cây có giá trị kinh tế như Keo, Mỡ. Điều này không chỉ làm tăng độ che phủ rừng mà còn thay đổi cơ cấu cây trồng, hướng tới phát triển rừng bền vững. Người dân bắt đầu nhận thức được rằng bảo vệ rừng chính là bảo vệ nguồn sống của mình. Các hoạt động khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên được chú trọng. Việc bảo vệ tốt lớp thảm thực vật giúp tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn, cải thiện chất lượng đất. Quá trình này cũng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều loài động, thực vật, bao gồm cả lâm sản ngoài gỗ, có điều kiện phục hồi và phát triển trở lại, tạo ra một hệ sinh thái rừng cân bằng và khỏe mạnh hơn.

3.1. Sự gia tăng đáng kể về độ che phủ rừng

Trước khi giao đất, tỷ lệ che phủ rừng của xã ở mức thấp và có xu hướng suy giảm. Sau khi chính sách được áp dụng, diện tích đất lâm nghiệp có rừng tăng từ 2.759,65 ha lên 3.153,19 ha. Sự gia tăng này chủ yếu đến từ việc các hộ gia đình tích cực trồng mới và bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên được giao. Độ che phủ rừng tăng lên không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn thể hiện sự thành công của việc xã hội hóa công tác bảo vệ rừng. Rừng thực sự có chủ đã tạo ra một vành đai xanh vững chắc cho địa phương.

3.2. Cải thiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Khi rừng được bảo vệ tốt hơn, hệ sinh thái tự nhiên có cơ hội phục hồi. Các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng đã có ý thức hơn trong việc ngăn chặn săn bắt động vật hoang dã và khai thác thực vật quý hiếm. Nhờ đó, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Phương Viên có những chuyển biến tích cực. Sự xuất hiện trở lại của nhiều loài chim, thú và sự phát triển của các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, dược liệu... đã làm phong phú thêm tài nguyên dưới tán rừng. Điều này không chỉ bảo tồn nguồn gen quý mà còn mở ra hướng sinh kế mới cho người dân từ việc thu hái bền vững các sản phẩm này.

IV. Cách giao đất giao rừng cải thiện kinh tế xã hội địa phương

Công tác giao đất giao rừng đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho phát triển kinh tế nông thôn tại xã Phương Viên. Việc trao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho người dân đã biến đất đai từ tài nguyên công thành tư liệu sản xuất của mỗi gia đình. Điều này đã giải phóng sức sản xuất, khuyến khích người dân đầu tư phát triển kinh tế hộ. Thu nhập của các hộ nhận rừng đã tăng lên rõ rệt. Theo kết quả điều tra 30 hộ gia đình, thu nhập bình quân đã tăng đáng kể sau khi nhận đất, đặc biệt ở nhóm hộ đầu tư trồng rừng sản xuất và các mô hình kinh tế dưới tán rừng như chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chính sách này đã trực tiếp góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo. Nhiều hộ từ diện nghèo đã vươn lên thành hộ khá giả nhờ kinh tế đồi rừng. Về mặt xã hội, việc giao rừng đã giúp ổn định đời sống, giảm tình trạng di cư tự do, tạo việc làm tại chỗ. Mối quan hệ làng xóm trở nên gắn kết hơn thông qua các hoạt động quản lý rừng cộng đồng và tổ hợp tác. Người dân có điều kiện tốt hơn để chăm lo cho giáo dục con cái và y tế. Sự ổn định và phát triển kinh tế cũng góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đặc biệt là ở một xã miền núi có nhiều thành phần dân tộc sinh sống.

4.1. Cải thiện sinh kế người dân miền núi và xóa đói giảm nghèo

Trước đây, sinh kế người dân miền núi phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp lúa nước manh mún và khai thác tự nhiên. Sau khi được giao rừng, cơ cấu kinh tế hộ đã có sự chuyển dịch tích cực. Kinh tế đồi rừng dần trở thành nguồn thu nhập chính và ổn định cho nhiều gia đình. Các sản phẩm từ rừng trồng như gỗ keo, mỡ và lâm sản ngoài gỗ đã trở thành hàng hóa, mang lại giá trị kinh tế cao. Chính sách này đã chứng minh hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo, giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã từ trên 30% xuống còn 18,6% (năm 2017), góp phần thực hiện mục tiêu của các chương trình quốc gia như chương trình 30a.

4.2. Hình thành các mô hình kinh tế dưới tán rừng hiệu quả

Trên diện tích đất rừng được giao, người dân Phương Viên đã sáng tạo nhiều mô hình kinh tế dưới tán rừng hiệu quả. Phổ biến là mô hình nông - lâm kết hợp, trồng xen các cây dược liệu, cây ngắn ngày dưới tán rừng non. Nhiều hộ phát triển chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê) theo hình thức bán chăn thả trong khu vực rừng của gia đình. Các mô hình này không chỉ tận dụng tối đa không gian, tài nguyên đất mà còn tạo ra nguồn thu nhập đa dạng, giảm rủi ro. Sự thành công của các mô hình này là minh chứng cho thấy hiệu quả sử dụng đất rừng đã được nâng cao rõ rệt, mở ra hướng đi bền vững cho kinh tế địa phương.

V. Đánh giá tác động môi trường từ chính sách giao đất giao rừng

Bên cạnh những lợi ích về kinh tế và xã hội, công tác giao đất giao rừng còn mang lại những tác động môi trường tích cực và sâu sắc tại xã Phương Viên. Việc gia tăng độ che phủ rừng là yếu tố quan trọng nhất. Một khi rừng được phục hồi, khả năng điều tiết nguồn nước được cải thiện rõ rệt. Các khu rừng đầu nguồn được bảo vệ tốt hơn đã giúp duy trì nguồn nước ổn định cho các khe suối, phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt là trong mùa khô. Theo điều tra, người dân nhận thấy tình trạng khô hạn, thiếu nước đã giảm so với trước. Lớp thảm thực vật dày đặc và hệ rễ cây phát triển giúp giữ đất, ngăn chặn hiệu quả hiện tượng xói mòn, rửa trôi, đặc biệt trên địa hình dốc. Chất lượng đất lâm nghiệp nhờ đó được cải thiện, độ phì tăng lên. Rừng phát triển còn có vai trò như một "lá phổi xanh", giúp điều hòa không khí, giảm thiểu tác động của thiên tai như lũ quét, sạt lở đất. Đây là một đóng góp quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày càng diễn biến phức tạp. Việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua chính sách giao đất giao rừng chính là một giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái hiệu quả và bền vững.

5.1. Cải thiện chất lượng đất và khả năng giữ nước đầu nguồn

Bảng 3.11 trong nghiên cứu gốc cho thấy chất lượng đất lâm nghiệp đã có sự thay đổi tích cực sau khi giao. Tình trạng đất bị xói mòn, bạc màu đã giảm. Việc người dân trồng rừng và bảo vệ lớp phủ thực vật đã giúp tăng cường hàm lượng mùn, cải thiện cấu trúc đất. Rừng đầu nguồn được bảo vệ tốt hơn đã phát huy vai trò sinh thủy. Theo khảo sát (Bảng 3.12), đa số người dân khẳng định nguồn nước sông suối ổn định hơn, giảm thiểu tình trạng lũ ống, lũ quét vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, đảm bảo an ninh lương thực và đời sống.

5.2. Vai trò của rừng trong việc giảm thiểu thiên tai ứng phó biến đổi khí hậu

Rừng tại Phương Viên, sau khi được giao cho các hộ quản lý, đã trở thành một tấm khiên vững chắc bảo vệ cộng đồng khỏi các tác động môi trường tiêu cực. Rừng giúp giảm tốc độ dòng chảy khi mưa lớn, hạn chế nguy cơ lũ lụt và sạt lở đất - những hiểm họa thường trực tại các vùng núi phía Bắc. Về lâu dài, việc duy trì và tăng cường diện tích rừng là một trong những biện pháp quan trọng nhất để ứng phó với biến đổi khí hậu. Rừng hấp thụ CO2, góp phần giảm hiệu ứng nhà kính, đồng thời tạo ra một tiểu khí hậu mát mẻ, trong lành hơn cho khu vực.

VI. Top giải pháp nâng cao hiệu quả giao đất giao rừng bền vững

Để phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được và khắc phục các tồn tại, việc hoàn thiện công tác giao đất giao rừng tại xã Phương Viên cần một hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách lâm nghiệp. Cần đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân sớm có được sự đảm bảo pháp lý cao nhất cho tài sản của mình. Thứ hai, giải pháp về vốn là cực kỳ quan trọng. Cần tạo điều kiện thuận lợi hơn để các hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, đặc biệt là các hộ nghèo, để đầu tư thâm canh, trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao. Thứ ba, cần đẩy mạnh giải pháp về kỹ thuật. Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng các mô hình trình diễn về phát triển rừng bền vững để người dân học tập. Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và kỹ thuật khai thác hợp lý. Cuối cùng, giải pháp về tổ chức quản lý cần được chú trọng. Nâng cao năng lực cho cán bộ địa chính, lâm nghiệp cấp xã. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sau giao đất để hỗ trợ kịp thời và xử lý các trường hợp vi phạm. Phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

6.1. Hoàn thiện chính sách và đơn giản hóa thủ tục hành chính

Nhà nước cần rà soát, điều chỉnh các chính sách lâm nghiệp cho phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là chính sách hưởng lợi từ rừng. Cần có cơ chế rõ ràng hơn về việc chia sẻ lợi ích từ các dịch vụ môi trường rừng. Quan trọng nhất, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần được cải cách theo hướng tinh gọn, giảm bớt các khâu trung gian và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Điều này sẽ củng cố niềm tin và tạo động lực mạnh mẽ cho người dân đầu tư vào đất rừng được giao.

6.2. Giải pháp về vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân

Cần đa dạng hóa các nguồn vốn hỗ trợ, kết hợp vốn từ ngân hàng chính sách, các dự án phát triển và nguồn vốn tự có của người dân. Đồng thời, công tác tập huấn kỹ thuật phải được thực hiện thường xuyên và thực chất. Nội dung tập huấn cần tập trung vào các mô hình kinh tế dưới tán rừng phù hợp với điều kiện địa phương, kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc, và kiến thức về thị trường tiêu thụ lâm sản để nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng và giá trị sản phẩm.

6.3. Tăng cường vai trò của chính quyền và quản lý rừng cộng đồng

Vai trò của chính quyền địa phương là then chốt trong việc tổ chức, chỉ đạo và giám sát. Cần xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, kiểm lâm và cộng đồng. Mô hình quản lý rừng cộng đồng cần được nhân rộng và hỗ trợ để phát huy sức mạnh tập thể. Việc xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước bảo vệ rừng của thôn, bản sẽ giúp nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm của mỗi người dân, đảm bảo cho sự nghiệp phát triển rừng bền vững tại Phương Viên.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, nó có ý nghĩa quyết định trong phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và kinh tế nông thôn nói chung. Ở nƣớc ta có trên 60% diện tích đất đai là đồi núi và chủ yếu diện tích đất đai đó thuộc đối tƣợng sản xuất lâm nghiệp. Từ lâu rừng đã gắn liền với việc bảo vệ môi trƣờng, cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. Rừng và nghề rừng đã có những đóng góp đáng kể cho phát triển nền kinh tế đất nƣớc.

Song trên thực tế cho thấy công tác sử dụng đất chƣa hợp lý cùng với nhận thức chƣa đầy đủ về vai trò của rừng, tình trạng khai thác rừng bừa bãi, đã làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, trữ lƣợng rừng giảm sút, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Bên cạnh đó, do tác động của cơ chế thị trƣờng đã làm cho tài nguyên rừng càng bị suy giảm nhanh chóng, gây tác động xấu tới môi trƣờng nhƣ hiện tƣợng xói mòn rửa trôi và lũ lụt, lũ quét thƣờng xuyên xẩy ra đã và đang đe doạ đến cuộc sống nhân dân… Trƣớc thực trạng đó, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chủ trƣơng, chính sách nhằm giải quyết triệt để vấn đề trên. Một trong những chủ trƣơng đƣợc xã hội quan tâm nhiều nhất đó là Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp và sau này là Nghị định 163/CP về giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Chính sách giao đất giao rừng rất quan trọng, là cơ sở để xác định rõ chủ thể quản lý rừng và đất rừng, nó thực sự trở thành đòn bẩy để phát huy mọi tiềm năng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng tích cực tham gia vào việc quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng.

Giao rừng, cho thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã và đang là bƣớc chuyển biến căn bản trong công tác quản lý bảo vệ rừng, làm cho rừng thực sự có chủ, ngƣời dân yên tâm quản lý, chủ động đầu tƣ phát triển sản xuất trên diện tích rừng đƣợc giao. Những chính sách này cùng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nƣớc đã tạo động lực, khuyến khích ngƣời dân tham gia nhận đất nhận rừng, đầu tƣ vốn và nhân lực để sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế. 1 Hiện nay hầu hết các địa phƣơng miền núi đã tiến hành thực hiện chủ trƣơng giao đất giao rừng và bƣớc đầu đã thu đƣợc những kết quả đáng kể. Thực tiễn trong những năm qua cho thấy chính sách giao đất giao rừng đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của đông đảo nhân dân các dân tộc, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân.

Nhiều mô hình kinh tế hộ gia đình đã đƣợc xây dựng nhƣ vƣờn rừng, trang trại, nông lâm kết hợp… đã cho thu nhập cao. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn, do đặc điểm đa dạng của các vùng sinh thái nhân văn khác nhau, việc triển khai thực hiện những chính sách giao đất lâm nghiệp ở mỗi địa phƣơng lại có những thuận lợi và khó khăn riêng. Chính vì vậy mà tác động của những chính sách này tới sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi địa phƣơng cũng có sự khác nhau và mang đặc thù của mỗi vùng. Xã Phƣơng Viên, huyện Chợ Đồn là một xã vùng sâu, vùng xa, nơi triển khai thực hiện giao đất lâm nghiệp qua nhiều thời kỳ với các phƣơng pháp tiếp cận khác nhau, tuy nhiên việc đánh giá đƣợc kết quả thực hiện và tác động của chính sách này đến quá trình phát triển tài nguyên rừng, kinh tế xã hội và môi trƣờng, từ đó có cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất chƣa đƣợc đầy đủ.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá tác động của công tác giao đất giao rừng đến sẽ phát triển tài nguyên rừng, kinh tế xã hội và môi trường tại xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” là cấp thiết và có ý nghĩa. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự cần thiết phải tiến hành giao đất, giao rừng Đất và rừng là loại tài sản đặc biệt trong đời sống kinh tế- xã hội của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nông lâm nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng và chiếm chủ yếu ngƣời dân sống ở nông thôn. Một mặt, đất là một loại nguồn lực, một loại tƣ liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuât nông nghiệp; mặt khác, nó là nền tảng tạo nên không gian sinh sống, tiến hành các hoạt động sản xuất công nghiệp, cung cấp dịch vụ và nhiều hoạt động khác nữa của con ngƣời.

Rừng và các tài sản gắn với rừng không chỉ có chức năng là nguồn lực kinh tế mà còn có chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng sống, duy trì sự đa dạng sinh học,… Trong điều kiện đó, việc khai thác đất, rừng một cách hiệu quả theo nguyên tắc bền vững là rất cấp thiết. Sự suy giảm tài nguyên rừng ở nƣớc ta hiện nay đã ở mức đáng báo động, đặc biệt là trong những năm gần đây. Nếu ở thời điểm năm 1943 tỷ lệ che phủ của rừng nƣớc ta là 43% thì đến năm 1993 tỷ lệ này chỉ còn ở mức 28% với khoảng 9.700 ha, dƣới mức tối thiểu cần thiết. Sự suy giảm đã gây ra những hậu quả xấu đối với việc phòng hộ và môi trƣờng sinh thái, vì vậy việc khôi phục lại vốn rừng là yêu cầu hết sức cấp bách, nhƣng cũng vô cùng khó khăn.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhà nƣớc ta đã đƣa ra các chính sách khôi phục và phát triển rừng, các chính sách đó phải kể đến đó là: Chính sách về giao đất giao rừng, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010 để đảm bảo độ che phủ của rừng lên mức 43% bằng với thời kỳ năm 1943. Diện tích đất lâm nghiệp cũng là địa bàn sinh sống của hầu hết đồng bào dân tộc miền núi, cuộc sống của họ thƣờng gắn liền với rừng và đất rừng, diện tích canh tác cây lúa ít, năng suất thấp nên hầu hết là thiếu đói do đó họ phải sống dựa vào rừng, khai thác tài nguyên rừng là chính. Từ đó dẫn đến tình trạng tài nguyên rừng ngày càng nghèo kiệt, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng gia tăng, tình trạng thất nghiệp, lao động không có việc làm…Vì vậy việc thu hút lực lƣợng lao động vào tham gia xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn trung du miền núi cũng là 3 một yêu cầu cấp thiết, có quan hệ mật thiết với việc phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn miền núi. Đứng trƣớc thực tế rừng chỉ có chủ chung là nhà nƣớc và quốc doanh quản lý nên đã không phát huy đƣợc tối đa năng lực sản xuất của rừng, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội và xuất khẩu.

Mặt khác rừng và đất rừng chƣa có chủ đích thực là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng suy thoái của rừng và đất rừng. Để tạo công ăn việc làm ổn định đời sống cho ngƣời làm lâm nghiệp và đồng bào các dân tộc miền núi thì vấn đề giao đất, giao rừng cho ngƣời dân quản lý, sử dụng lâu dài là một trong các điều kiện tiên quyết để tổ chức lại sản xuất, tổ chức lại lao động một cách hợp lý trên địa bàn miền núi. Mục tiêu của chiến lƣợc phát triển Lâm nghiệp là tiếp tục triển trai khai các biện pháp bảo vệ có hiệu quả diện tích rừng hiện có và phát huy sử dụng tối đa lợi thế của rừng, tiềm năng lao động của địa phƣơng. Bảo vệ rừng gắn với phát triển bền vững tài nguyên rừng góp phần nâng độ che phủ của rừng lêm 45% vào năm 2020 và cải thiện đời sống ngƣời dân miền núi, xây dựng nông thôn mới (Quyết định sô 57/CĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020).

Muốn thực hiện đƣợc các mục tiêu trên, vấn đề đầu tiên là phải tiến hành giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế, đến hộ gia đình hoặc các tổ chức nhằm xã hội tạo điều kiện cho ngƣời dân có cơ hội sử dụng các diện tích rừng và đất rừng đã đƣợc giao phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng hộ gia đình, để phát triển sản xuất và tăng nguồn thu trong lâm nghiệp. Từ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế vùng nông thôn miền núi, thu hút đƣợc các nguồn lực vào việc xây dựng và phát triển vốn rừng. Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đƣơc nâng cao thì vốn rừng sẽ giữ đƣợc ở mức ổn định. Đây chính là biện pháp chiến lƣợc để thực hiện mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội miền núi của Đảng và Nhà nƣớc.

Tình hình thực hiện công tác GĐGR ở trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Mô hình sử dụng đất đầu tiên trên thế giới là du canh. Hình thức du canh chính là những hệ thống Nông nghiệp trong đó đất đƣợc phát quang để canh tác với thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hoá. Đây đƣợc xem là một phƣơng thức canh tác cổ xƣa nhất, ra đời vào cuối thế kỷ đồ đá mới.

Sau du canh là phƣơng thức Taungia (có nghĩa là canh tác đồi núi) đƣợc đánh giá nhƣ là một dấu hiệu báo trƣớc cho các phƣơng thức sử dụng đất sau này. Trên quan điểm quản lý sử dụng đất thì du canh và Taungia đều có một điểm tƣơng đồng là những cây Nông nghiệp đƣợc sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phù của đất đƣợc làm tăng lên vì chính những loài cây gỗ đã trở lại thảm mục của đất. Trong đó du canh là hệ thống canh tác các loài cây Nông nghiệp và cây Lâm nghiệp sinh trƣởng kế tiếp nhau. Còn Taungia bao gồm sự kết hợp thời của 2 thành phần này trong những giai đoạn sớm nhất của quá trình hình thành rừng trồng.

Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác có tính truyền thống của mỗi nƣớc, mỗi khu vực khác nhau trên thế giới mà Taungia đã phân hoá và phát triển thành hệ thống quản lý sử dụng đất khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ