CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm a. Thời tiết (Weather) Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định được xác định bằng một hay tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa, mây, v.
Khí hậu (Climate) Theo nghĩa hẹp khí hậu thường được định nghĩa như là thời tiết trung bình, hoặc nghiêm ngặt hơn, như là mô tả thống kê về trung bình và sự biến động của các đại lượng có liên quan trên chu kỳ thời gian từ hàng tháng đến hàng nghìn hoặc hàng triệu năm. Chu kỳ dùng để lấy trung bình các biến này thường là 30 năm như Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) định nghĩa. Các đại lượng có liên quan thông thường nhất là các nhiệt độ bề mặt, giáng thủy và gió. Theo nghĩa rộng khí hậu được hiểu là trạng thái của hệ thống khí hậu bao gồm cả mô tả thống kê.
Trong báo cáo của IPCC chu kỳ lấy trung bình có thể bằng 20 năm. Nói một cách đơn gian hơn, khí hậu là trung bình theo thời gian của thời tiết. Biến đổi khí hậu (Climate Change) Biến đổi khí hậu, mà biểu hiện là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng đang là một trong những thách thức lớn đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Biến đổi khí hậu đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội và sức khỏe con người.
Thiên tai, các hiện tượng thời tiết - khí hậu cực đoan như là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là thách thức lớn cho phát triển bền vững. Theo IPCC, biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [IPCC, 2007].
Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (Vulnerability) Khái niệm tính dễ bị tổn thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau. Trong biến đổi khí hậu, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có được định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất. Ban đầu tính dễ bị tổn thương được xác định là mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và NBD [IPCC, 1992]. Tiếp theo, Báo cáo đánh giá lần thứ 2 [IPCC, 1996] đã xác định tính dễ bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới.
Khái niệm được ứng dụng rộng rãi nhất là khái niệm do IPCC (2007) xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC, 2001)”. Có thể tóm tắt lại rằng, tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH. Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response) Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH.
Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH. Thích ứng (Adaptation) với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT-XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giảm nhẹ (Mitigation) BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải KNK (Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu, 2008). Nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và nước biển dâng Khí hậu Trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi trong quá khứ.
Những biến động khí hậu xảy ra trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của Trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời. Nhưng BĐKH hiện nay chủ yếu là do nguyên nhân con người gây ra. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu là do sự gia tăng các hoạt động phát thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng càng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu là nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), do đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến nhiệt độ Trái Đất tăng lên.
Theo IPCC, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng. đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại là từ các hoạt động khác. Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền.
Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao hơn từ 0,5 – 1,4m vào cuối thế kỉ XXI. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Biểu hiện chính của biến đổi khí hậu Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các dấu hiệu chính như sau: - Nhiệt độ trung bình năm tăng, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng lên; - Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao; - Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán, v.) xảy ra với độ bất thường, cường độ, tần suất tăng lên. Các biểu hiện chính của BĐKH và tác động tới tự nhiên và đời sống xã hội Yếu tố Biến đổi khí hậu Tác động Gây ngập lụt ở các vùng thấp; Thay đổi dòng chảy của sông Nước biển dâng ngòi và hệ thống thủy lợi; Tăng xâm nhập mặn.
Tăng thiệt hại về người và của; Thiên tai và các cực đoan của khí hậu, Tài sản, nhà cửa, có sở hạ tầng thời tiết (áp thấp, bão, lũ lụt, hạn hán, các lọai, sản xuất nông lâm năng nóng, rét hại) gia tăng nghiệp, thủy sản các hệ sinh thái bị ảnh hưởng; Gia tăng dịch bệnh (nhất là sau lũ lụt). Ảnh hưởng tới sức khỏe, dịch bệnh; Ảnh hưởng tới tài nguyên nước; Nhiệt độ và sự bất thường của khí hậu, Ảnh hưởng tới sản xuất nông thời tiết tăng nghiệp; Tăng nguy cơ cháy/ cháy rừng; Ảnh hưởng tới các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là các HST nhạy cảm (ví dụ như: san hô)… (Theo Trương Quang Học, 2010) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan tài liệu 1. Nghiên cứu trên thế giới Năm 1988, khi tổ chức IPCC được ra đời do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cùng với Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đồng thành lập nhằm đánh giá các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT - XH nhằm tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH gây ra bởi con người.
Từ đó đến nay nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt tại các quốc gia được dự báo là sẽ chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của BĐKH gây ra trong đó có Việt Nam (WB). Sự ra đời của IPCC đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu. IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, sự dâng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương, …), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT-XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu. Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, 1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP1 đến COP19), v.
Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể. Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001).