MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng phía Nam của Việt Nam, với tổng diện tích tự nhiên 40.548,2 km², tổng dân số 17. Nông nghiệp và thủy sản đóng một vai trò quan trọng của vùng ĐBSCL và cả nƣớc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nƣớc. Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long đã đƣợc xác định là một trong năm điểm “nóng” chịu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu (Cruz et al.
Trong số các biểu hiện biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu, nƣớc biển dâng đƣợc dự báo có tác động đặc biệt nghiêm trọng đến khu vực ĐBSCL. Nhiều dự báo BĐKH cho thấy nếu 1,0 m dâng lên của mực nƣớc biển xảy ra thì hơn 12,000 km2, tƣơng đƣơng với 31% diện tích của ĐBSCL sẽ bị ngập lụt. Hậu quả sẽ ảnh hƣởng tới gần 5 triệu ngƣời hay trên 25% dân số của ĐBSCL (Carew-Reid, 2008: 23). Ngoài vấn đề về nƣớc biển dâng - dẫn đến sự xâm nhập mặn nghiêm trọng đất canh tác nông nghiệp và nguồn nƣớc ngầm, mƣa thất thƣờng, lũ lụt và ngập nƣớc lâu dài cũng là những tác động bất lợi có thể thấy trƣớc đƣợc ở ĐBSCL (Doyle et al.
Từ đầu thế kỷ 20, ĐBSCL đƣợc biết đến nhƣ “vựa lúa, cá” của Việt Nam, tạo sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình nông thôn. Dọc các vùng ven biển, các hệ sinh thái đã đƣợc thay đổi cùng với hệ thống các cơ sở hạ tầng kiểm soát nguồn nƣớc lợ và nƣớc ngọt đƣợc xây dựng để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa. Tuy nhiên, từ khi quá trình “Đổi Mới” bắt đầu vào năm 1986, một diện tích đáng kể đất trồng lúa dựa trên hệ sinh thái nông nghiệp đã đƣợc chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản nƣớc lợ. Với việc ban hành Nghị quyết 09/NQ-CP, ngày 15/06/2000 của Chính phủ cho phép ngƣời dân chuyển đổi diện tích ruộng lúa nhiễm mặn, diện tích đất hoang hóa và đất làm muối kém hiệu quả ở các vùng ven biển sang nuôi trồng thủy sản (NTTS), diện tích nuôi tôm nƣớc lợ đã tăng vọt từ 235.000 ha vào năm 2003 và trên 630.000 ha vào năm 2008 và do quá trình xâm nhập mặn nên diện tích tiếp tục tăng lên 694.000 ha vào năm 2016, trong đó ĐBSCL là 621.48% và đến cuối năm 2017 đã tăng lên 696.
Sóc Trăng là một tỉnh ven biển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 72 km đƣờng bờ biển, với 3 cửa sông chính là cửa Định An, cửa Trần Đề (sông Hậu) và cửa (LUAN.trang 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.trang Mỹ Thanh (sông Mỹ Thanh) là nơi trú ngụ của nhiều loài thủy, hải sản nƣớc lợ và nƣớc mặn có giá trị kinh tế cao. Hơn 22 năm, kể từ ngày tỉnh Sóc Trăng đƣợc tái lập đến nay, thủy sản đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Từ năm 1995 đến nay, với diện tích nuôi chỉ bằng 1/3 diện tích đất trồng lúa, nhƣng giá trị kinh tế từ con tôm gần bằng giá trị của hơn 2 triệu tấn lúa mỗi năm. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh là 72.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm nƣớc lợ là 54.797,2 ha, chiếm 76,1 % tập trung ở 3 huyện Trần Đề, Cù Lao Dung, Mỹ Xuyên và thị xã V nh Châu.
Do ảnh hƣởng của BĐKH, diện tích đất bị nhiễm mặn tiếp tục mở rộng do đó diện tích nuôi tôm nƣớc lợ không ngừng tăng lên, cuối năm 2014 diện tích nuôi tôm nƣớc lợ toàn tỉnh là 45.000 ha thì đến cuối năm 2016 đã tăng lên 54. Mặc dù diện tích đƣợc mở rộng nhƣng hoạt động nuôi tôm nƣớc lợ của ngƣời dân cũng gặp nhiều khó khăn do tác động của BĐKH nhƣ : i) Nắng nóng kéo dài; ii) Độ mặn tăng cao; iii) Biến động lƣợng mƣa lớn; iv) Áp thấp nhiệt đới và bão, … Năm 2016 đã có tới 8.088,9 ha diện tích nuôi tôm nƣớc lợ bị thiệt hại do những ảnh hƣởng của biến đổi thời tiết, khí hậu. Tuy nhiên, do thời tiết khí hậu của khu vực ĐBSCL thời gian trƣớc đây khá ôn hòa và ít có những biến động nhƣ khu vực Miền Bắc, Miền Trung của Việt Nam nên đứng trƣớc bối cảnh BĐKH ngƣời nuôi dân thƣờng ít có kinh nghiệm và kỹ năng trong ứng phó, còn tƣ duy chủ quan và một phần do phong tục tập quán lâu đời… Vì vậy, ảnh hƣởng của BĐKH gây ra càng nặng nề hơn, điển hình cơn bão Lisa đổ bộ năm 1997 đã gây chết và mất tích trên 3.000 ngƣời, thiệt hại 7. Hay do tâm lý lo sợ và thiếu kiến thức nhiều hộ dân đã phải thu tôm sớm trƣớc mỗi lần báo áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) và báo Số 16/2016 kéo theo tình trạng thƣơng lái ép giá làm thiệt hại lên tới nhiều tỷ đồng.
Chính vì vậy, tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng nuôi tôm nước lợ tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá mức độ tổn thƣơng do tác động của BĐKH và năng lực thích ứng hiện tại của cộng đồng nuôi tôm tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, từ đó có những đề xuất và kiến nghị phù hợp cho địa phƣơng. Mục đích nghiên cứu Phân tích diễn biến BĐKH tại ĐBSCL và tại Sóc Trăng. Đánh giá mức độ tổn thƣơng do tác động của BĐKH đến hoạt động nuôi tôm nƣớc lợ tại huyện Mỹ Xuyên.trang 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.trang Đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH của cộng đồng nuôi tôm tại huyện Mỹ Xuyên (Tìm hiểu những biện pháp thích ứng trong quá khứ và hiện tại của ngƣời dân). Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu dựa trên bối cảnh BĐKH đang diễn ra tại địa phƣơng và hiện trạng ứng phó của cộng đồng nuôi tôm nƣớc lợ qua đó có đề xuất, kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế của địa phƣơng về: - Đề xuất những chính sách phát triển thủy sản gắn với thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Nghiên cứu, ứng dụng, nhân rộng mô hình kỹ thuật có tính thích ứng cao với BĐKH. - Xây dựng năng lực trong thích ứng cho cộng đồng gắn bối cảnh thực tế về BĐKH, điều kiện sản xuất của hộ dân, năng lực tài chính hộ gia đình, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong ứng phó… - Xây dựng mô hình liên kết sản xuất nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, ổn định nguồn hàng, thích ứng trong sản xuất. - Quy hoạch sản xuất của địa phƣơng và của ngành thủy sản. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH đến hoạt động nuôi tôm nƣớc lợ của huyện ven biển Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Nghiên cứu năng lực thích ứng với BĐKH của cộng đồng nuôi tôm. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu đƣợc tiến hành trong phạm vi địa bàn hành chính của huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng - Thời gian nghiên cứu: Từ 17/03/2018 - 17/12/2018 5. Vấn đề nghiên cứu và giải thuyết nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu đƣợc thực hiện trong bối cảnh BĐKH đã diễn biến mạnh và phức tạp tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long trong đó có Sóc Trăng. Qua nghiên cứu luận văn dự kiến sẽ trả lời những câu hỏi sau đây: - Diễn biến thời tiết tại khu vực ĐBSCL nói chung và tại Sóc Trăng nói riêng ? - Những biểu hiện chính về BĐKH tại khu vực này là gì ? (LUAN.trang 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.trang - Các diễn biến thời tiết, khí hậu đó đã ảnh hƣởng gì đến hoạt động nuôi tôm nƣớc lợ tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng? - Trong quá khứ và hiện tại ngƣời dân đã có những biện pháp ứng phó gì ? Hiệu quả tới đâu? (Những giải pháp này sẽ tập trung vào góc độ năng lực ứng phó gồm: Kiến thức, Kỹ năng, Kinh nghiệm, Tri thức bản địa …) Giả thuyết nghiên cứu Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện với các giả thiết nhƣ sau: - Nuôi tôm là l nh vực sản xuất dựa trên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (nƣớc, đất và các yếu tố môi trƣờng) và phụ thuộc lớn vào các yếu tố thời tiết, khí hậu, môi trƣờng nhƣ: nhiệt độ, độ mặn, PH, độ kiềm, lƣợng mƣa, nắng, gió, bão, … Trong khi BĐKH đang diễn biến phức tạp tại khu vực ĐBSCL gây tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) lên hoạt động sản xuất nuôi tôm nƣớc lợ của cộng đồng về các khía cạnh: diện tích nuôi, dịch bệnh, tốc độ tăng trƣởng, cơ sở hạ tầng, chi phí sản xuất, năng suất nuôi và sản lƣợng nuôi.
- Trong quá khứ nên thời tiết, khí hậu của khu vực ĐBSCL khá ổn định, ôn hòa, ít có biến động nên ngƣời dân thƣờng có tâm lý “chủ quan”, thiếu kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức trong ứng phó với những thay đổi của thời tiết, khí hậu trong thời gian gần đây. Đặc biệt là các biến động lớn ở cấp độ thiên tai nhƣ bão, giông lốc, ATNĐ, … - Bằng việc áp dụng các công cụ nghiên cứu nhƣ xây dựng chỉ số đánh giá mức độ tổn thƣơng, thang đo đánh giá mức độ thích ứng, kinh tế - xã hội, …. các giải pháp ứng phó hiện tại của cộng đồng sẽ đƣợc đánh giá, qua đó thấy đƣợc hiệu quả của các giải pháp này.trang 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.trang CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC ĐỘ TỔN THƢƠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NUÔI TÔM NƢỚC LỢ DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.
Cơ sở lý luận về nuôi trồng thủy sản ven biển và nuôi tôm nƣớc lợ 1. Lý luận cơ bản về nuôi trồng thủy sản ven biển 1. Khái niệm về nuôi trồng thủy sản ven biển Nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã đƣợc nhiều đơn vị, nhiều nhà khoa học nghiên cứu và lý giải. Theo Spichak và Formoso (1974): “NTTS là một hệ thống các biện pháp và phƣơng pháp đƣợc con ngƣời áp dụng để nuôi tập trung các sinh vật trong nƣớc” và là “một l nh vực đặc biệt của kinh tế quốc dân”.
Theo Karpevich (1985) cho rằng “trong nuôi các loài thủy sinh, ngƣời ta theo đuổi mục đích thu đƣợc sản lƣợng cao nhất trong một thời gian ngắn”. Theo Tổ chức Nông lƣơng Liên Hợp quốc (FAO) (2008), “NTTS là nuôi các đối tƣợng thủy sinh: cá, nhuyễn thể, giáp xác, các động vật không xƣơng sống, tảo đơn bào, rong, thực vật bậc cao bằng cách sử dụng các phƣơng pháp quảng canh và thâm canh nhằm mục đích nâng cao sản lƣợng trên một đơn vị diện tích hoặc thể tích, cao hơn sản lƣợng của các quần thể thủy sinh vật trong tự nhiên”.