CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài Trong vài thập kỷ qua, chất lượng dịch vụ đã trở thành một lĩnh vực quan tâm chính đối với các học viên, nhà quản lý và nhà nghiên cứu do tác động mạnh mẽ của nó đến hiệu quả kinh doanh, chi phí dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng (Leonard và Sasser, 1982; Cronin và Taylor, 1992; Gammie, 1992; Hallowell, 1996; Chang và Chen, 1998; Gummesson, 1998; Lasser và cộng sự., 2000; Silvestro và Cross, 2000). Churchill và Serprenant (1982) giải thích sự hài lòng của khách hàng như là hiệu suất của sự mong đợi trước khi và sau khi sử dụng dịch vụ.
Kỳ vọng trước khi sử dụng sản phẩm có thể là ý thức, kỳ vọng chủ động hoặc ý thức, kỳ vọng thụ động. Sự hài lòng hoặc không hài lòng của khách hàng là một chức năng được công nhận từ sự khác biệt giữa kỳ vọng trước và hiệu suất thực tế. Fornell (1992) đề xuất rằng lợi ích chính của sự hài lòng về sản phẩm của khách hàng chính là lòng trung thành, vì khi khách hàng trung thành sẽ có khả năng tạo ra dòng tiền mặt ổn định trong tương lai đối với nhà cung cấp sản phẩm đó. Kết quả thu được từ mô hình chỉ ra độ co giản giảm, tức là khi sự hài lòng càng cao, khách hàng sẽ càng sẵn sàng trả tiền cho các lợi ích và chịu đựng bất kỳ sự tăng giá nào.
Khi công ty tạo ra sự hài lòng càng cao cho khách hàng sử dụng dịch vụ thì sẽ mất chi phí thấp hơn với các giao dịch trong tương lai, vì công ty đó sẽ dành ít nguồn lực hơn để xử lý lợi nhuận, quản lý khiếu nại và xử lý lại các mặt hàng bị lỗi. Đồng thời, nó làm tăng khả năng cạnh tranh, giảm chi phí thất bại, giảm chi phí trong việc thu hút khách hàng mới và nâng cao danh tiếng của công ty. Tại mức độ hài lòng cao nhất, khách hàng có nhiều khả năng giới thiệu công ty đó đến những người khác, góp phần quảng bá hình ảnh và tăng danh tiếng cho công ty. Nghiên cứu của Zeithaml và cộng sự (1990) đã nghiên cứu về cách khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ như thế nào dựa trên những mô hình phổ biến dựa trên các nghiên cứu trước đó.
Họ rút ra được kết luận rằng chìa khóa để đảm bảo một chất lượng dịch vụ tốt là việc đáp ứng đủ hoặc tốt hơn những kỳ vọng mà khách hàng 4 mong đợi về dịch vụ đó. Nghiên cứu còn cho thấy các đánh giá về chất lượng dịch vụ cao hay thấp phụ thuộc vào nhận thức của khách hàng và hiệu suất của dịch vụ trong bối cảnh những gì họ mong đợi. Từ đó, có thể định nghĩa chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được là sự chênh lệch giữa kỳ vọng và nhận thức của khách hàng. Gronroos (1990) cho rằng mức độ chất lượng kỹ thuật và chức năng không chỉ xác định được tổng chất lượng cảm nhận, mà còn xác định được chênh lệch giữa kỳ vọng về dịch vụ và sự trải nghiệm thực tế của dịch vụ đó.
Jug gunning (2000) đã tổng hợp những nội dung cơ bản về các mô hình đánh giá mối liên hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Đến năm 2004, Nitin Seth và S. Deshmukh đã mở rộng lên thành 20 mô hình khác nhau có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Ngoài ra, nhóm tác giả còn chỉ ra ưu, nhược điểm của các mô hình này; đồng thời, xác định các vấn đề nghiên cứu cho tương lai.
Trong các bài nghiên cứu, nghiên cứu của Asya Archakova (2013) đã cung cấp khung lý thuyết khá đầy đủ về mô hình SERVQUAL khi đi từ mô hình chất lượng kỹ thuật/kỹ thương, mô hình khoảng cách phát triển dần lên thành mô hình SERVQUAL. Noel Yee-Man Siu Jeremy Chi-Wah Mou (2005) đã tiến hành điều tra sự hài lòng với dịch vụ NHĐT ở Hồng Kông thông qua 5 tiêu chí: độ tin cậy, sự hiệu quả, sự nghiêm túc, cách khắc phục sự cố và an ninh. Sau khi sử dụng mô hình e- SERVQUAL, nghiên cứu thu được kết quả sau: bảo mật là nhân tố quan trọng nhất trong việc quyết định sử dụng dịch vụ NHĐT; uy tín, xử lý vấn đề và bảo mật có tác động đáng kể liên quan đến sự hài lòng của khách hàng; an ninh và tính hiệu quả có liên quan đến hành vi tiêu dung trong tương lai. Thông qua những kết quả thu được, bài nghiên cứu còn đưa ra những khuyến nghị để phát triển dịch vụ NHĐT ở Hồng Kông trong tương lai.
João Pedro Couto và cộng sự (2013) tiếp tục tìm hiểu về sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ NHĐT bằng cách nghiên cứu các mô hình và hành vi của người tiêu dùng Bồ Đào Nha liên quan đến việc chấp nhận và sử dụng dịch vụ này. Để thu thập dữ liệu, tác giả đã sử dụng quy trình “snowball” trực tuyến. Phương pháp thống kê được sử dụng bao gồm phân tích nhân tố để kiểm tra mối tương quan giữa các biến ban đầu. Kết quả thu được cho thấy phần lớn người dung được hỏi không nêu ra vấn 5 đề gì khi sử dụng dịch vụ NHĐT.
Một số nhân tố quan trọng từ mô hình bao gồm: (i) sự tin tưởng và tuận tiện; (ii) tính cá nhân hóa; (iii) các đặc điểm công nghệ riêng lẻ ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ NHĐT; (iv) nhận thức của người sử dụng về dịch vụ; (v) ý định sử dụng dịch vụ NHĐT. Sharma and Nirav B. Halvadia (2015) chỉ sử dụng 3 yếu tố: chất lượng dịch vụ trực tuyến, chất lượng các tiện ích của NHĐT và chất lượng dịch vụ cổng thông tin Web để đo lường chất lượng dịch vụ NHĐT ở Ấn Độ. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu mẫu gồm 400 khách hàng của một số ngân hàng công và tư nhân ở Ấn Độ sử dụng dịch vụ NHĐT.
Từ đó, suy ra mười yếu tố của chất lượng dịch vụ NHĐT, bao gồm: chất lượng thông tin, thiết kế trang web, sự tiện dụng, độ tin cậy, sự bảo mật, quyền riêng tư, sự tương tác, tính cá nhân hóa/ tùy chỉnh, chất lượng dịch vụ cơ bản, chất lượng dịch vụ của các sản phẩm tài chính khác và giá trị gia tăng. Những công trình nghiên cứu trong nước Trong nước, những nghiên cứu những vấn đề về dịch vụ NHĐT đã có nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu quan tâm. Có một số công trình khoa học ở các cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiến liên quan đến chủ đề này, trong đó: Nguyến Thành Công (2010) đã tiến hành nghiên cứu 10 mô hình đo lường chất lượng dịch vụ áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng theo những khía cạnh và quan điểm khác nhau của các tác giả trên thế giới và đã được công bố trong giai đoạn 1984 – 2010 để giúp cho các nhà quản lý có thể xác định được các vấn đề liên quan đến việc cải tiến chất lượng dịch vụ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp. Nội dung của bài viết chủ yếu tập trung vào việc hệ thống hóa các mô hình, đánh giá kết quả nghiên cứu và so sánh sự khác biệt giữa các mô hình.
Trịnh Thanh Huyền (2012) đã trình bày những vấn đề cơ bản về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng thương mại. Nghiên cứu đã phân tích thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng thương mại thời gian qua, đánh giá các điều kiện phát triển cũng như mức độ phát triển thanh toán ở Việt Nam để chỉ ra những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại để làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp 6 Nguyễn Văn Cương (2016) đã sử dụng mô hình SERVQUAL trong phân tích chất lượng dịch vụ tín dụng tại NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam- chi nhánh Hùng Vương, Phú Thọ từ đó chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ của ngân hàng này. Ngô Thị Hương Giang, Phạm Tuấn Anh (2018) đã tập trung đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng đối với các hộ sản xuất (HSX) qua 5 tiêu chí của mô hình SERVQUAL: độ tin cậy, sự cảm thông, khả năng đáp ứng, độ bảo đảm và phương tiện hữu hình. Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với hộ sản xuất.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với hộ sản xuất của Agrank chi nhánh huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới. Trần Thị Xuân (2013) đã hệ thồng các lý luận về dịch vụ ngân hàng điện tử. Tác giả tiến hành khảo sát, điều tra trên cơ sở đó để đưa ra một số kiến nghị để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi phỏng vấn còn chung chung, và khía cạnh thanh toán liên ngân hàng vẫn chưa được tác giả đề cập.
Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Bảo Khánh (2016) tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sử dụng dịch vụ NHĐT của khách hàng cá nhân tại thành phố Huế. Sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ TAM làm nền tảng lý thuyết, nghiên cứu đề xuất ba nhân tố mới “nhận thức sự tự tin”, “nhận thức sự tin tưởng” và “nhận thức rủi ro”. Kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định (CFA) được sử dụng để kiểm tra sự phù hợp của mô hình đo lường, mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng để khám phá mối quan hệ có tính cấu trúc giữa các nhân tố. Kết quả phân tích cho thấy mô hình nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với dữ liệu thị trường.
Cuối cùng, từ những kết quả thu được, nghiên cứu đề xuất giải pháp cho công tác quản lý và phát triển NHĐT đối với các NHTM Việt Nam cũng như các chính sách marketing để thúc đẩy người tiêu dùng sử dụng dịch vụ. Khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu a. Khoảng trống nghiên cứu Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới chỉ ra rằng nghiên cứu về sự hài lòng của các khách hàng với chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực 7 ngân hàng không phải là điều mới.