Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) giữ vai trò là một trong ba cây lương thực quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp toàn cầu, vừa cung cấp lương thực trực tiếp cho con người, vừa là nguồn nguyên liệu tinh chủ lực chiếm tới 70% trong thức ăn chăn nuôi công nghiệp, đồng thời là nguyên liệu quan trọng phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol). Trên thế giới, năm 2014 diện tích ngô đạt 184,8 triệu ha với sản lượng 1.037,79 triệu tấn. Tại Việt Nam, mặc dù sản lượng ngô năm 2015 đã đạt khoảng 5.281 nghìn tấn với diện tích 1.179 nghìn ha, năng suất bình quân (44,8 tạ/ha) vẫn thấp hơn mức trung bình của thế giới và chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước. Lượng ngô nhập khẩu phục vụ ngành chế biến thức ăn chăn nuôi gia tăng nhanh chóng, từ 1,6 triệu tấn (năm 2011) lên đến 3,875 triệu tấn (năm 2014) và 7,3 triệu tấn (vụ 2015/2016), gây áp lực lớn về kim ngạch nhập khẩu.

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tiêu biểu cho tiểu vùng sinh thái nông nghiệp miền núi, nơi cây ngô đóng vai trò là cây trồng kinh tế và lương thực then chốt với diện tích đạt 21,0 nghìn ha năm 2015. Tuy nhiên, sản xuất ngô tại địa phương thường xuyên chịu tác động bất lợi của hạn hán vụ Xuân, mưa bão gây đổ ngã và sâu bệnh hại. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá để tuyển chọn những tổ hợp ngô lai mới có khả năng thích nghi cao, sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh và đổ gãy tốt nhằm nâng cao năng suất ngô trên địa bàn tỉnh là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đàm Văn Tuân (chuyên ngành Trồng trọt, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, năm 2017) được triển khai nhằm thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Xác định được tổ hợp ngô lai có năng suất cao, khả năng chống chịu phù hợp với điều kiện khí hậu tại Thái Nguyên nhằm phục vụ khảo nghiệm sản xuất và mở rộng diện tích canh tác.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):
    1. Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
    2. Nghiên cứu các đặc điểm hình thái: chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, chỉ số diện tích lá của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
    3. Theo dõi khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm (khả năng chống chịu sâu bệnh hại, chống đổ, gãy).
    4. So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các tổ hợp lai; chọn ra tổ hợp lai tốt nhất để đề xuất khảo nghiệm sản xuất.
  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 06 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo (ký hiệu: VN8, VN9, VN10, VN11, VN12, VN13) và 01 giống đối chứng là NK67 (giống ngô lai của Công ty Syngenta Việt Nam có tiềm năng năng suất trung bình 10,51 tấn/ha, kháng sâu đục thân tốt).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Thí nghiệm đồng ruộng thực hiện tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (đất cát pha, vụ trước trồng ngô).
    • Thời gian: Vụ Xuân năm 2016; thời gian gieo hạt ngày 24/02/2016, thu hoạch ngày 28/06/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở khoa học về di truyền học và chọn giống cây trồng, đặc biệt là lý thuyết về hiện tượng ưu thế lai (heterosis) ở cây giao phấn được hình thành từ các nghiên cứu kinh điển của Charles Darwin (1871, 1877), Wilim Janes Beal (1877), cùng các chương trình tạo dòng thuần và con lai thương mại của Trung tâm Cải tiến Ngô và Lúa mì Quốc tế (CIMMYT) cũng như Viện Nghiên cứu Ngô Việt Nam. Quá trình đánh giá tổ hợp lai ở các vùng sinh thái thực tế là khâu quyết định để kiểm tra khả năng phối hợp, độ đồng đều, tính ổn định và khả năng thích ứng của giống trước khi đưa vào sản xuất đại trà.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được áp dụng nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn chuyên ngành:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 7 m² (chiều dài 5 m, chiều rộng 1,4 m), xung quanh có các dải bảo vệ.
  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Tiến hành theo dõi và đánh giá theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác:
    • Mật độ gieo trồng: 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm, trồng 1 cây/hốc).
    • Phân bón: 2 tấn phân hữu cơ vi sinh/ha kết hợp phân vô cơ theo tỷ lệ 150 kg N : 90 kg P₂O₅ : 90 kg K₂O/ha. Toàn bộ phân vi sinh và lân supe bón lót 100%; phân đạm và kali chia làm hai lần bón thúc (lần 1 bón 1/2 N + 1/2 K₂O khi cây 3-5 lá kết hợp xới xáo; lần 2 bón lượng còn lại khi cây 7-9 lá kết hợp vun cao luống).
  • Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
    • Chỉ tiêu sinh trưởng và thời gian phát triển: Theo dõi các mốc gieo đến trỗ cờ (G - TC khi >50% cây xuất hiện nhánh cuối bông cờ), gieo đến tung phấn (G - TP khi >50% cây nở hoa ở 1/3 trục chính), gieo đến phun râu (G - PR khi >50% cây râu dài 2-3 cm), gieo đến chín sinh lý (G - CSL khi >75% hạt xuất hiện chấm đen chân hạt).
    • Chỉ tiêu hình thái và diện tích lá: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp đo thời kỳ chín sữa; đếm tổng số lá/cây; diện tích lá được tính qua công thức: $\text{Diện tích lá (m}^2\text{)} = \text{Chiều dài} \times \text{Chiều rộng} \times 0,75$; Chỉ số diện tích lá: $\text{CSDTL (m}^2\text{ lá/m}^2\text{ đất)} = \text{Diện tích lá/cây} \times \text{Số cây/m}^2$.
    • Động thái tăng trưởng: Đo chiều cao cây và đếm số lá định kỳ 10 ngày/lần (tại các mốc 20, 30, 40, 50, 60 ngày sau trồng).
    • Khả năng chống chịu: Đánh giá sâu đục thân (Chilo partellus / Ostrinia nubilalis) ở giai đoạn chín sáp và sâu cắn râu ở giai đoạn chín sữa theo thang 5 cấp (cấp 1: <5% đến cấp 5: 35-50% cây bị hại); theo dõi tỷ lệ đổ rễ (cây nghiêng $\ge 30^\circ$), đếm số rễ chân kiềng, đo đường kính gốc thân và tỷ lệ gãy thân theo 5 cấp điểm.
    • Chỉ tiêu cấu thành năng suất: Đo chiều dài và đường kính bắp thứ nhất trên 30 cây mẫu; xác định số hàng hạt/bắp, số hạt/hàng, tỷ lệ hạt/bắp (%), khối lượng 1000 hạt quy về ẩm độ chuẩn bảo quản 14% ($M_{1000(14%)}$). Đo độ ẩm hạt tươi thu hoạch ($A_0$) bằng máy đo Kett 400 (Nhật Bản).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán trung bình trên phần mềm Microsoft Excel 2010; phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ($LSD_{0,05}$) và hệ số biến động ($CV%$) bằng phần mềm thống kê sinh học nông nghiệp IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò kinh tế - lương thực của ngô toàn cầu và thực trạng nhập siêu ngô nguyên liệu tại Việt Nam. Xác định rõ mục đích nghiên cứu nhằm tuyển chọn tổ hợp lai phù hợp sinh thái Thái Nguyên; liệt kê 4 yêu cầu cụ thể của đề tài; phân tích ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu về chọn giống ngô và ý nghĩa thực tiễn đối với kỹ năng thực nghiệm, xử lý số liệu đồng ruộng của sinh viên ngành Nông học.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu và số liệu thứ cấp gồm 5 nội dung chính:

  1. Cơ sở khoa học: Khái quát lịch sử nghiên cứu ưu thế lai và tầm quan trọng của việc khảo nghiệm tổ hợp lai tại vùng sinh thái dự kiến phát triển giống.
  2. Sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới: Thống kê diện tích ngô toàn cầu giai đoạn 2006-2016 tăng từ 150,5 lên 182,3 triệu ha, sản lượng tăng từ 716,5 lên 1.053,8 triệu tấn; Bắc Mỹ dẫn đầu (sản lượng 424,97 triệu tấn năm 2016); Mỹ là quốc gia đứng đầu với năng suất 109,0 tạ/ha, sản lượng 384,77 triệu tấn; điểm lại các mốc lịch sử nghiên cứu từ Cotton Mather (1716), Paul Dadly (1724), Koeleviter (1766), John Lorain (1812), Charles Darwin (1871, 1877), Wilim Janes Beal (1877) đến thành lập CIMMYT (1966).
  3. Sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam: Phân kỳ lịch sử sản xuất qua 3 giai đoạn (1960-1980, 1981-1992, và từ 1993 đến nay); diện tích ngô cả nước năm 2015 đạt 1.179 nghìn ha, năng suất 44,8 tạ/ha; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích lớn nhất (519,3 nghìn ha, chiếm 44,04%) nhưng năng suất thấp nhất (36,8 tạ/ha); điểm qua các mốc chọn tạo giống thụ phấn tự do (MSB49, TSB2, TSB1) và các giống ngô lai thâm canh (LVN111, LVN102, VN595, LVN62, LVN883).
  4. Tình hình tiêu thụ ngô: Thống kê nhu cầu tiêu thụ toàn cầu (Bắc Mỹ tiêu thụ cao nhất, 366,34 triệu tấn năm 2016); lượng nhập khẩu ngô của Việt Nam từ Braxin (744,16 nghìn tấn giai đoạn 5/2014-2/2015), Achentina (477,85 nghìn tấn), Ấn Độ (329,16 nghìn tấn), Hoa Kỳ (263,04 nghìn tấn).
  5. Sản xuất và thử nghiệm giống ngô lai mới tại Thái Nguyên: Phân tích số liệu diện tích ngô Thái Nguyên từ 17,9 nghìn ha (2010) tăng lên 21,0 nghìn ha (2015), sản lượng tăng từ 75,2 lên 87,6 nghìn tấn; điểm lại kết quả thử nghiệm các giống LVN154 (vụ Xuân 2009 đạt 85,56 tạ/ha), VS36 (vụ Xuân 2013 đạt >80 tạ/ha), DK8868 (vụ Xuân 2014 đạt 78 tạ/ha), PAC 669 và PAC 558 (vụ Đông 2015).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chi tiết hóa danh mục 06 tổ hợp lai nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Ngô cung cấp (VN8 đến VN13) cùng đối chứng NK67. Mô tả vị trí địa lý, tính chất đất cát pha tại phường Quang Vinh, TP. Thái Nguyên. Thiết kế sơ đồ bố trí ô thí nghiệm RCBD với 3 lần nhắc lại; chuẩn hóa quy trình phân bón (150N : 90P₂O₅ : 90K₂O + 2 tấn vi sinh), kỹ thuật chăm sóc, xới xáo, vun luống và phương pháp đo đếm 20 chỉ tiêu sinh trưởng, hình thái, khả năng chống chịu và cấu thành năng suất theo QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, phân tích chi tiết dữ liệu theo dõi thực tế vụ Xuân 2016:

  • Thời gian sinh trưởng: Gieo - trỗ cờ dao động 69 - 72 ngày; gieo - tung phấn 69 - 73 ngày; gieo - phun râu 70 - 73 ngày; thời gian sinh trưởng (gieo - chín sinh lý) dao động 115 - 120 ngày. Chênh lệch tung phấn - phun râu ngắn (0 - 2 ngày), đảm bảo độ trùng khớp thụ phấn.
  • Đặc điểm hình thái và chỉ số lá: Chiều cao cây dao động từ 174,5 cm (VN11) đến 234,9 cm (VN12); chiều cao đóng bắp từ 69,1 cm (VN9) đến 100,8 cm (VN12); tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây nằm trong giới hạn thích hợp (36,82% - 44,14%, thấp hơn đối chứng NK67 là 47,47%). Số lá trên cây đạt từ 18,9 đến 21,1 lá; chỉ số diện tích lá (CSDTL) đạt từ 3,22 đến 4,58 m² lá/m² đất (VN12 đạt cao nhất 4,58 m² lá/m² đất).
  • Động thái tăng trưởng và tốc độ ra lá: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây chậm ở 20 ngày đầu (1,04 - 1,56 cm/ngày), tăng mạnh nhất ở giai đoạn 50 - 60 ngày sau trồng (đạt 4,78 - 6,27 cm/ngày). Tốc độ ra lá dao động 0,13 - 0,15 lá/ngày (sau 20 ngày) và đạt đỉnh 0,21 - 0,30 lá/ngày (sau 60 ngày).
  • Khả năng chống chịu: Điểm sâu đục thân dao động mức 3 - 4 (VN8, VN10, VN12, VN13 bị nhẹ hơn đối chứng, điểm 3); điểm sâu cắn râu dao động 3 - 5 (VN10 kháng tốt nhất, điểm 3). Về chống đổ, đường kính gốc đạt 1,57 - 1,93 cm (VN12 lớn nhất 1,93 cm); số rễ chân kiềng đạt 5,1 - 27,7 rễ (VN13 đạt 27,7 rễ, VN12 đạt 23,5 rễ, vượt trội đối chứng NK67 chỉ đạt 6,5 rễ). Ở giai đoạn 12 lá, mưa gió lớn gây đổ rễ 72% - 97%, nhưng sau khi vun gốc chăm sóc, 100% các tổ hợp lai đều đứng thẳng trở lại khi trỗ cờ (tỷ lệ đổ 0%).
  • Yếu tố cấu thành năng suất: Số bắp/cây sai khác không có ý nghĩa giữa các công thức ($P > 0,05$); chiều dài bắp dao động 15,41 - 18,35 cm (VN9, VN11, VN12 dài hơn đối chứng); đường kính bắp dao động 4,19 - 5,01 cm.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng hợp các đánh giá sinh trưởng, mức độ chống chịu sâu bệnh và khả năng phục hồi đổ ngã của các tổ hợp lai; đề xuất phương hướng khảo nghiệm sản xuất đối với các tổ hợp lai triển vọng tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về 06 tổ hợp ngô lai mới tại vụ Xuân 2016 ở Thái Nguyên thông qua các bảng so sánh tổng hợp:

Bảng 1: Thời gian sinh trưởng và các chỉ tiêu hình thái của các tổ hợp ngô lai

Tổ hợp lai Gieo - trỗ cờ (ngày) Gieo - chín sinh lý (ngày) Chênh lệch TP - PR (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều cao đóng bắp (cm) Tỷ lệ đóng bắp/chiều cao (%) Số lá/cây (lá) CSDTL (m² lá/m² đất)
VN8 69 120 2 201,0 74,0 36,82 19,8 3,66
VN9 69 116 1 183,1 69,1 37,74 19,6 3,22
VN10 70 120 0 208,9 80,4 38,49 21,0 3,74
VN11 69 116 2 174,5 69,9 40,06 18,9 3,62
VN12 72 116 0 234,9 100,8 42,91 21,1 4,58
VN13 71 115 1 184,4 81,4 44,14 19,8 4,02
NK67 (đ/c) 72 120 0 199,7 94,8 47,47 20,9 4,26
CV (%) 1,3 - - 2,2 3,4 - 2,2 6,1
LSD₀,₀₅ 2,0 - - 7,9 5,0 - 0,8 0,42

Bảng 2: Mức độ nhiễm sâu hại và đặc điểm chống đổ của các tổ hợp ngô lai

Tổ hợp lai Sâu đục thân (điểm 1-5) Sâu cắn râu (điểm 1-5) Đường kính gốc (cm) Số rễ chân kiềng (rễ) Tỷ lệ đổ rễ GĐ 12 lá (%) Tỷ lệ đổ rễ GĐ trỗ cờ (%)
VN8 3 5 1,77 13,6 95 0
VN9 4 4 1,57 5,1 97 0
VN10 3 3 1,83 13,4 94 0
VN11 4 4 1,63 8,4 97 0
VN12 3 4 1,93 23,5 72 0
VN13 3 5 1,70 27,7 73 0
NK67 (đ/c) 4 4 1,73 6,5 93 0
CV (%) - - 5,4 14,3 - -
LSD₀,₀₅ - - 0,17 3,6 - -

Đóng góp chính của đề tài:

  • Chứng minh được tính tương quan sinh lý thuận lợi của các tổ hợp lai mới: Khoảng cách giữa tung phấn và phun râu rất ngắn (0 - 2 ngày), trùng khớp tốt đảm bảo quá trình thụ phấn không bị nghẽn hạt.
  • Xác định được tổ hợp lai VN12 có ưu thế vượt trội về sinh trưởng sinh dưỡng: Chiều cao cây đạt 234,9 cm, chỉ số diện tích lá đạt 4,58 m² lá/m² đất, đường kính gốc lớn nhất (1,93 cm), số rễ chân kiềng cao (23,5 rễ) và tỷ lệ đổ rễ thấp nhất trong đợt giông bão ở giai đoạn 12 lá (72%).
  • Xác định được tổ hợp lai VN10 có khả năng chống chịu sâu hại toàn diện nhất: Điểm sâu đục thân đạt điểm 3 (thấp hơn đối chứng NK67) và sâu cắn râu đạt điểm 3 (thấp nhất trong tất cả các tổ hợp lai).
  • Ghi nhận hiện tượng hồi phục hình thái thực vật học rõ nét của cây ngô: Dù tỷ lệ đổ ngã do mưa lớn ở giai đoạn 12 lá rất cao (72 - 97%), việc kết hợp vun gốc bổ sung đã giúp mô phân sinh phát huy tác dụng, đưa tỷ lệ nghiêng đổ về 0% ở giai đoạn trỗ cờ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân 2016) trên một chân đất đặc thù (đất cát pha tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên). Đề tài chưa theo dõi, so sánh diễn biến sinh trưởng và năng suất qua các mùa vụ có điều kiện bức xạ nhiệt khác biệt (như vụ Thu Đông hoặc vụ Đông), cũng như chưa mở rộng thử nghiệm trên các loại đất dốc, đất đồi gò phổ biến tại các huyện miền núi của tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục đưa các tổ hợp ngô lai có triển vọng (đặc biệt là VN12 và VN10) vào khảo nghiệm sinh thái đa điểm tại các vùng sản xuất ngô trọng điểm của Thái Nguyên như Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương; theo dõi bổ sung trong vụ Thu Đông và vụ Đông để đánh giá tính ổn định di truyền, tiềm năng năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế trước khi đề xuất công nhận giống sản xuất thử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Trồng trọt, Nông học, Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật; cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Giống cây trồng và Trạm Khuyến nông địa phương.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Quy trình chuẩn bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên cây ngô theo Quy chuẩn QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT.
    • Phương pháp tính toán và theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá định kỳ 10 ngày và công thức xác định chỉ số diện tích lá (CSDTL).
    • Dữ liệu so sánh đối chứng về khả năng phát sinh rễ chân kiềng, độ lớn thân gốc và phản ứng phục hồi sau đổ ngã của các dòng ngô lai mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiến hành thử nghiệm những vật liệu ngô lai nào và đối chứng là giống gì?
Nghiên cứu thực nghiệm 06 tổ hợp ngô lai do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo gồm VN8, VN9, VN10, VN11, VN12, VN13. Giống đối chứng là NK67 của Công ty Syngenta Việt Nam, là giống ngô thương mại có khả năng kháng sâu đục thân tốt và năng suất trung bình 10,51 tấn/ha.

2. Thời gian sinh trưởng từ gieo đến chín sinh lý của các tổ hợp lai kéo dài bao nhiêu ngày?
Thời gian từ gieo đến chín sinh lý của các tổ hợp lai dao động từ 115 đến 120 ngày. Trong đó, VN13 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (115 ngày); các tổ hợp VN9, VN11, VN12 đạt 116 ngày (chín sớm hơn đối chứng); tổ hợp VN8 và VN10 có thời gian chín sinh lý tương đương đối chứng NK67 (120 ngày).

3. Tổ hợp lai nào thể hiện đặc điểm hình thái thân lá và sinh trưởng vượt trội nhất?
Tổ hợp lai VN12 thể hiện ưu thế hình thái cao nhất với chiều cao cây đạt 234,9 cm (vượt đối chứng NK67 ở mức 199,7 cm), chiều cao đóng bắp 100,8 cm, số lá/cây đạt 21,1 lá, chỉ số diện tích lá (CSDTL) đạt 4,58 m² lá/m² đất và đường kính thân gốc đạt 1,93 cm ($P < 0,05$).

4. Tổ hợp lai nào có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nhất trong thí nghiệm?
Tổ hợp lai VN10 có khả năng chống chịu sâu hại đồng đều nhất, với mức độ nhiễm sâu đục thân đạt điểm 3 (ít hơn giống đối chứng NK67 đạt điểm 4) và mức độ nhiễm sâu cắn râu đạt điểm 3 (nhẹ nhất trong toàn bộ 7 công thức thí nghiệm).

5. Khả năng chống đổ và phục hồi sau ngập đổ của các giống ngô trong vụ Xuân 2016 diễn ra như thế nào?
Ở giai đoạn 12 lá gặp mưa lớn và giông gió, tất cả các tổ hợp ngô lai đều bị đổ rễ với tỷ lệ từ 72% đến 97% (thấp nhất là VN12 với 72% và VN13 với 73%). Nhờ được vun gốc kịp thời kết hợp hoạt động sinh lý của mô phân sinh và hệ rễ chân kiềng (VN13 đạt 27,7 rễ, VN12 đạt 23,5 rễ), đến giai đoạn trỗ cờ 100% số cây của tất cả các tổ hợp lai đã phục hồi đứng thẳng hoàn toàn (tỷ lệ đổ 0%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đàm Văn Tuân đã thực hiện đánh giá thực nghiệm hoàn chỉnh về sinh trưởng, hình thái, khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ của 06 tổ hợp ngô lai mới vụ Xuân 2016 tại Thái Nguyên theo quy chuẩn QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT. Kết quả nghiên cứu đã phân lập rõ nét ưu thế của tổ hợp VN12 về sinh trưởng sinh dưỡng, chỉ số diện tích lá và số rễ chân kiềng, cùng ưu thế của tổ hợp VN10 về khả năng kháng sâu hại. Đây là tài liệu thực nghiệm nông học có giá trị dữ liệu tin cậy, làm cơ sở khoa học cho công tác khảo nghiệm sản xuất giống ngô lai tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc.