Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang Khoai lang (Ipomoea batatas L.) là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ bìm bìm (Convolvulaceae) (Purseglove, 1974 [43]); Võ Văn Chi và CS, 1969 [1]. Trong tổng số 50 chi và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng và được sử dụng làm lương thực. Số loài Ipomoea dại đã được xác định là hơn 400 loài nhưng loài Ipomoea batatas là loài cây trồng duy nhất có củ ăn được.
Cây khoai lang với thân phát triển lan dài, các lá có nhiều hình dạng khác nhau từ dạng lá đơn đến chia thùy sâu (Mai Thạch Hoành, 1998) [12]. Mặt khác, cây khoai lang còn có khả năng thích ứng rộng hơn các cây trồng khác như cây sắn, củ từ, củ mỡ,. Cây khoai lang khác với các loài khác về màu sắc vỏ củ (trắng, đỏ, kem, nâu, vàng, hoặc hồng.) hay màu ruột củ (trắng, kem, vàng, nghệ, đốm tím.) và khác nhau về khả năng đề kháng với sâu bệnh (Woolfe, 1992) [54]. Khoai lang có nguồn gốc nguyên thuỷ từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ lan dần đến vùng nam Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, những nước mà cây khoai lang đóng vai trò quan trọng nhất lại là những nước mà cây khoai lang mới thu nhập gần đây. Các thương gia và các nhà thống trị Châu Âu đã mang đến Châu Phi, Châu á và đông Thái Bình Dương. Cây khoai lang được đưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê (PNG) khoảng 300 đến 400 năm trước (Yen, 1974) [59]. Hầu hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ).
Bằng chứng lâu đời nhất là những mẫu khoai lang khô thu được tại hang động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang n 5 còn được tìm thấy tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2.000 năm trước công nguyên (Ugent, Poroski và Poroski, 1983) [52], Austin (1977) [23], OBrien (1972) [41] và Yen (1982) [59] và cây khoai lang thực sự lan rộng ở Châu Mỹ khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới. Vì vậy, khoai lang được coi là nguồn lương thực quan trọng của người Mayan ở Trung Mỹ và người Peruvian ở vùng núi Andet (Nam Mỹ). Vào năm 1492 trong chuyến vượt biển đầu tiên của Christopher Columbus đã tìm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được trồng ở Hispaniola và Cuba.
Từ đó, khoai lang mới thực sự lan rộng ở châu Mỹ và sau đó được di thực đi khắp thế giới. Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số nước châu Âu và được gọi là Batatas (hoặc Padada), sau đó là Spanish Potato (hoặc sweet potato). Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã thu nhập cây khoai lang vào châu Phi (có thể bắt đầu từ Môdămbic hoặc Ănggôla) theo hai con đường từ châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn Độ. Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập cây khoai lang vào Philippin (Yên, 1982) [59] và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung quốc) năm 1594.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ Ấn Độ hoặc Myanma. Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không phát triển được. Đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc. Cây khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 400 Bắc đến 320 Nam và lan đến độ cao 3.000m so với mặt nước biển (Woolfe J.
Tuy nhiên, cây khoai lang vẫn được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. n 6 Ở Việt Nam, theo các tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn (Viện Hán nôm, 1995) [19], (Bùi Huy Đáp, 1984) [5], cây khoai lang có nhiều khả năng là cây trồng nhập nội và có thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon ngày nay) vào cuối đời Minh cai trị nước ta. Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: Cam thự (Khoai lang) là loài củ thuộc loài thử dự, rễ và lá như rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nữa bằng cái bình, da tía, thịt trắng, người ta luộc ăn (Bùi Huy Đáp, 1984) [5], (Viện Hán nôm, 1995) [19]. Sách “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (Nhà xuất bản khoa học xã Hội 1987 đã có ghi: “Năm 1558 (năm Mậu ngọ), khoai lang từ Philippin được đưa vào Việt Nam, trồng đầu tiên ở An Trường - Thủ đô tạm thời của đời nhà Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá”.
Như vậy, khoai lang đã có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng gần 450 năm. Cây khoai lang được giới thiệu vào Việt Nam có thể từ tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc hoặc đảo Luzon - Philippin vào cuối thế kỷ 16 (Vũ Đình Hòa, 1996) [11]. Những yêu cầu điều kiện ngoại cảnh và đất trồng đối với khoai lang Khoai lang là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới nên khí hậu nóng thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển. Ở những nơi thời tiết ấm khoai lang có thể được trồng quanh năm.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cây khoai lang còn tùy thuộc vào điều kiện, từng thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau của cây và có liên quan chặt chẽ đối với thời vụ trồng. Nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ mọc mầm ra rễ của khoai lang từ 20 - 250C. Nếu điều kiện nhiệt độ dưới 100C khoai lang có thể bị chết, dây mới trồng không bén rễ được, điều này đã giới hạn đến việc trồng khoai lang từ vùng ôn đới đến những vùng có ít nhất 4-6 tháng không có sương muối cùng với nhiệt độ cao trong cả thời kỳ (Onwueme, 1978) [42]. Nhiệt độ càng cao n 7 đặc biệt trong điều kiện đủ nước và chất dinh dưỡng thân lá phát triển càng tốt, sự hình thành củ thuận lợi do đó số củ/cây càng nhiều.
Tuy nhiên, tốc độ lớn của củ khoai lang còn phụ thuộc vào biên độ chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, chênh lệch này càng lớn thì càng có lợi cho sự lớn lên của củ khoai lang (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004) [16]. Nhiệt độ thấp làm tăng khả năng hóa gỗ và làm giảm khả năng hóa bần ở những tế bào trung trụ ở các mô bên trong của ruột củ. Đất khô và có kết cấu chắc làm tăng khả năng hóa gỗ nhưng lại làm giảm khả năng hóa bần. Ban đêm nhiệt độ thấp (200C) cùng với điều kiện ánh sáng ngày dài là một trong những nhân tố quyết định tới sự hình thành và phát triển của củ ở khoai lang (Kim, 1961) [35].
Trong điều kiện nhiệt độ từ 100C đến 150C hoặc thấp hơn nữa thì khả năng phân hóa và hình thành củ hầu như không diễn ra (Spence và Humphris, 1972) [49]. Khoai lang có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nên cây khoai lang có phản ứng ánh sáng ngày ngắn (dưới 13 giờ ánh sáng/ngày) thời gian chiếu sáng thích hợp trong một ngày từ 8 - 10giờ ánh sáng. Cường độ ánh sáng mạnh thuận lợi cho sự phát triển của khoai lang, nhưng cường độ ánh sáng yếu lại có tác dụng xúc tiến quá trình ra hoa của khoai lang (26,4% cường độ ánh sáng trung bình). Cường độ ánh sáng thấp làm giảm cả quá trình hóa gỗ và hóa bần, đồng thời trì hoãn quá trình phình củ.
Hàm lượng N trong đất thấp làm giảm mức độ hóa gỗ và tăng mức độ hóa bần, làm bộ rễ phát triển nghiêng về phía có nhiều rễ đực (Togari, 1950) [51]. Kotama và CS, (1965) [36] cho rằng đất có độ ẩm cao thường tăng quá trình phát triển thân lá hơn quá trình phát triển củ. Do đó, độ ẩm thích hợp cho khoai lang là khoảng 70 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Tuy nhiên, nhu cầu về nước đối với khoai lang qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển cũng khác nhau.
n 8 Giai đoạn đầu (từ trồng đến kết thúc thời kỳ phân cành kết củ) thì độ ẩm đất: 65 - 75%. Giai đoạn thứ 2 (giai đoạn phát triển thân lá) cần khoảng 50 - 60%. Giai đoạn thứ 3: Quá trình phát triển tập trung chủ yếu vào sự vận chuyển tích luỹ vật chất hữu cơ từ thân lá vào củ, và để củ phát triển thuận lợi cũng cần đảm bảo độ ẩm đất 70 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004) [16]. Khoai lang là cây dễ tính không kén đất, tuy nhiên thích hợp nhất cho khoai lang phát triển tốt là đất thịt nhẹ, tơi xốp, lớp đất mặt sâu.
Theo Bourke (1985) [27] ở Papua Niu Ghine, khoai lang trồng trên đất thịt nặng, đất than bùn cũng như đất pha cát, nền đất bằng phẳng cũng như đất sườn dốc nghiêng tới 400. Đất có kết cấu chặt và nghèo dinh dưỡng sẽ hạn chế quá trình hình thành củ khoai lang, dẫn đến năng suất thấp. Bourke (1985) [26] cho rằng độ pH tối thích cho khoai lang sinh trưởng phát triển tốt 5,6 - 6,6. Tuy nhiên cây khoai lang có thể sinh trưởng phát triển tốt ở loại đất có pH = 4,5 - 7,5 trừ đất sét nặng có hàm lượng nhôm trong đất cao.
Cây khoai lang có thể bị chết trong vòng 6 tuần nếu trồng trên đất có độ nhôm cao và không được bón vôi (Baufort - Murphy, 1889) [27]. Khoai lang được xem là có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng. Trên nền đất được coi là nghèo với một số cây trồng khác thì khoai lang vẫn cho năng suất. Tuy nhiên, năng suất đạt được trên loại đất này chỉ khai thác được một phần khả năng sản xuất của cây.
Muốn khoai lang đạt năng suất cao cần tăng dinh dưỡng cho cây. Khoai lang là cây trồng cạn, được trồng chủ yếu trên đất cát ven biển, cát pha, đất thịt nhẹ, đất một lúa một màu và đất hai vụ lúa một vụ màu. Đối với chân đất hai vụ lúa và một vụ màu với điều kiện thành phần cơ giới tương đối nhẹ, chủ động trong việc tưới tiêu, rất thích hợp đối với cây khoai lang. n 9 Đối với điều kiện đất đai của Việt Nam, nhất là khi cây vụ Đông trở thành vụ sản xuất chính trong sản xuất, tiềm năng đất đai có thể trồng được khoai lang là rất lớn.