Tổng quan luận án
Sản xuất lúa gạo toàn cầu đối mặt với sức ép gia tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng dân số trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thu hẹp diện tích đất canh tác do đô thị hóa và áp lực dịch bệnh (Godfray et al., 2010; Qian et al., 2016; Zeng et al., 2017). Để vượt qua trần năng suất, các chương trình chọn tạo giống đã khai thác ưu thế lai giữa hai loài phụ indica và japonica. Phương pháp phát triển các dòng mang một đoạn nhiễm sắc thể thay thế (Chromosome Segment Substitution Lines - CSSLs) thông qua lai xa kết hợp chỉ thị phân tử cho phép chuyển các đoạn nhiễm sắc thể mang tính trạng mong muốn vào hệ gen nền, đồng thời khắc phục hiện tượng bất dục phân giải ở con lai (Zamir, 2001; Zeng et al., 2017). Trên cơ sở các dòng vật liệu chọn lọc từ quần thể phân ly của tổ hợp lai giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori thuộc Dự án JICA-DCGV tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Hạnh (chuyên ngành Khoa học cây trồng, mã số 9 62 01 10) thực hiện đánh giá đặc điểm nông sinh học, hình thái, giải phẫu và sinh lý của các dòng lúa mới nhằm phục vụ công tác chọn giống và xác định biện pháp canh tác thích hợp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, giải phẫu và sinh lý của các dòng lúa mới tạo ra do lai giữa một giống indica IR24 và một giống japonica Asominori so với bố mẹ, từ đó cung cấp các thông tin phục vụ cho công tác chọn giống và canh tác lúa.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng của các dòng lúa được tạo ra do lai xa giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori nhằm tìm ra đặc điểm nông sinh học tốt để phục vụ nghiên cứu.
- Đánh giá được sự khác biệt về đặc điểm hình thái giải phẫu, quang hợp và vận chuyển sản phẩm quang hợp đến năng suất của dòng lúa mới so với bố mẹ.
- Bước đầu xác định lượng phân bón và mật độ cấy thích hợp cho dòng lúa mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: 24 dòng lúa được tạo ra do lai giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori (gồm 23 dòng CSSL nhập nội từ Nhật Bản và 1 dòng DCG66 phát triển từ Dự án JICA-DCGV) cùng 2 giống bố mẹ đối chứng IR24 và Asominori.
- Phạm vi không gian: Khảo nghiệm đồng ruộng tại 3 vùng sinh thái đại diện gồm Sơn La (vùng miền núi phía Bắc), Hà Nội (vùng đồng bằng sông Hồng) và Nghệ An (vùng Bắc Trung Bộ); thí nghiệm chậu vại và thí nghiệm kỹ thuật canh tác thực hiện tại Gia Lâm, Hà Nội.
- Phạm vi yếu tố và thời gian: Thí nghiệm chậu vại đánh giá 3 mức phân đạm (0g, 1g và 2g N/chậu); thí nghiệm đồng ruộng đánh giá 3 mức tổ hợp phân bón (90N + 90P2O5 + 70K2O; 110N + 110P2O5 + 90K2O; 130N + 130P2O5 + 110K2O kg/ha) và các mật độ cấy trong các vụ xuân và vụ mùa từ năm 2017 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các hướng:
Đặc điểm hình thái, giải phẫu và cấu trúc cây lúa:
Nghiên cứu về bộ rễ của Uga et al. (2009) trên 59 dòng lúa trồng châu Á chỉ ra japonica có diện tích trung trụ và mạch gỗ lớn, trong khi indica biến động về rễ sâu và dày. Sandhu et al. (2016), Owusu-Nketia et al. (2018) và Anis et al. (2019) chứng minh cấu trúc rễ và tổng chiều dài rễ có tương quan thuận với tỷ lệ hạt chắc và năng suất hạt. Về cấu trúc thân và tính chống đổ, Hojyo (1974), Zhu et al. (2008), Wu et al. (2011), Hirose et al. (2011) và Zhang et al. (2016a, 2016b) xác định các giống thân to có số lượng bó mạch nhiều, khoang dự trữ carbohydrate lớn, giúp cải thiện sức chịu đổ và nâng cao sức chứa. Đối với cấu trúc bông và hệ thống mạch dẫn, các nghiên cứu của Ikeda et al. (2004), Yan et al. (2007), Miura et al. (2010), Tăng Thị Hạnh và cs. (2015), Zhai et al. (2018), Fei et al. (2019), Terao et al. (2010) và Zhao et al. (2006) khẳng định số lượng và diện tích bó mạch cổ bông liên kết trực tiếp với số lượng gié cấp 1, cấp 2 và hiệu quả vận chuyển sản phẩm đồng hóa về hạt.
Đặc tính quang hợp, tích lũy chất khô và vận chuyển carbohydrate không cấu trúc (NSC):
Hirasawa et al. (2010), LÜ et al. (2013), Đỗ Thị Hường và cs. (2013, 2014) và Lê Văn Khánh và cs. (2015) ghi nhận tương quan giữa cường độ quang hợp ở các giai đoạn đẻ nhánh, trỗ với năng suất cá thể. Về động thái chất khô và NSC, các công trình của Pradhan et al. (2014), Katsura et al. (2008), Phạm Văn Cường (2016), Takai et al. (2006, 2012), Yoshinaga et al. (2013a, 2013b), Wang et al. (2015, 2016a, 2016b), Fu et al. (2011), Ohsumi et al. (2011), Wei et al. (2018) và Li et al. (2017) xác nhận NSC tích lũy ở thân và bẹ lá trước trỗ đóng góp từ 24% đến 27% vào năng suất hạt (Cock & Yoshida, 1973), là nguồn bổ sung cho hoạt động quang hợp giai đoạn chín.
Cải tiến kiểu cây, năng suất và chất lượng chế biến:
Quá trình tiến hóa kiểu cây từ bán lùn mang gen sd1 (Chandler Jr., 1968), giống IR36 (Khush et al., 1977), kiểu cây mới NPT (Donald, 1968; Khush et al., 1989; Peng et al., 1994, 2008) đến mô hình siêu lúa Trung Quốc (Cheng et al., 2007; Qian et al., 2016). Về chất lượng, các tiêu chí amylose (AC), nhiệt hóa hồ (GT) và độ bền gel (GC) được He et al. (1999), Zhou et al. (2003), Bùi Chí Bửu & Nguyễn Thị Lang (2004), Trần Mạnh Cường và cs. (2014), Nguyễn Trọng Khanh & Nguyễn Văn Hoan (2014) khảo sát. Đối với gạo phục vụ chế biến mì bún, Ahmed et al. (2016), Fari et al. (2011), Xie et al. (2013), Han et al. (2011), Hoàng Hải Hà & Ngô Xuân Mạnh (2006) xác định hàm lượng amylose cao (>25%), nhiệt hóa hồ thấp đến trung bình là tiêu chuẩn cốt lõi.
Lai xa giữa indica và japonica cùng phát triển dòng CSSLs:
Luận án dẫn giải các kết quả khắc phục bất dục qua gen tương hợp rộng Wc (Chen et al., 2008; Li & Yuan, 2010), các tổ hợp lai tại Việt Nam như DT122, MT508-1 (Hoàng Tuyết Minh, 2002), HYT127 (Nguyễn Trí Hoàn và cs., 2009), HD1, HD2 (Dương Xuân Tú và cs., 2011), DCG72 (Phạm Văn Cường và cs., 2015). Về dòng CSSLs, Kubo et al. (2002) đã tạo lập quần thể 70 dòng IAS (nền IR24 mang đoạn Asominori) và 90 dòng AIS (nền Asominori mang đoạn IR24).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn là: Đánh giá đồng bộ cơ chế nông sinh học từ hình thái giải phẫu rễ, thân, cổ bông đến động thái sinh lý tích lũy, vận chuyển NSC và hiệu quả sử dụng đạm của các dòng lúa mang đoạn nhiễm sắc thể thay thế có nguồn gốc từ cặp lai IR24 x Asominori trong điều kiện sinh thái và canh tác tại Việt Nam, đặc biệt định hướng ứng dụng cho chế biến mì gạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm nông học, sinh lý thực vật:
- Khung lý thuyết: Khung phân tích mối quan hệ nguồn - sức chứa (source - sink relationship); lý thuyết tích lũy và điều động carbohydrate không cấu trúc (NSC); nguyên lý cấu trúc giải phẫu hệ thống mạch dẫn và hình thái rễ; các chỉ số hiệu quả sử dụng đạm gồm hiệu quả sử dụng đạm nông học (ANUE), hiệu quả sử dụng đạm sinh khối (BNUE) và hiệu quả sử dụng đạm quang hợp (PNUE); mô hình suy giảm ánh sáng trong tán lá với hệ số dập tắt tán $k$ và chỉ số diện tích lá (LAI).
- Phương pháp thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng tại 3 điểm sinh thái (Sơn La, Hà Nội, Nghệ An) theo khối ngẫu nhiên hoàn lại (RCBD) qua các vụ xuân 2017, mùa 2017 để so sánh sinh trưởng, năng suất và tính ổn định.
- Bố trí thí nghiệm chậu vại tại Gia Lâm (Hà Nội) với 3 mức đạm ($N_0$: 0g N/chậu, $N_1$: 1g N/chậu, $N_2$: 2g N/chậu) để phân tích giải phẫu và sinh lý.
- Thí nghiệm kỹ thuật canh tác đồng ruộng gồm 3 mức tổ hợp phân bón ($M_1$: 90N + 90P2O5 + 70K2O; $M_2$: 110N + 110P2O5 + 90K2O; $M_3$: 130N + 130P2O5 + 110K2O kg/ha) kết hợp các mật độ cấy (vụ mùa 2017, xuân 2018 tại Hà Nội).
- Phương pháp phân tích và công cụ:
- Giải phẫu học: Cắt lát vi thể mô rễ (thước đo bar = 100 µm), lóng gốc và lóng cổ bông (bar = 125 µm); đếm số lượng bó mạch lớn, bó mạch nhỏ, đo đường kính và diện tích mạch dẫn.
- Sinh lý: Đo cường độ quang hợp bằng máy đo quang hợp khí khổng; đo hàm lượng diệp lục bằng chỉ số SPAD; phân tích hàm lượng nitơ trong lá đòng; tính tốc độ tích lũy chất khô (CGR), hệ số tán $k$.
- Hóa sinh: Chiết tách và định lượng carbohydrate không cấu trúc (NSC gồm đường hòa tan và tinh bột) trong thân + bẹ lá và bông ở các giai đoạn sinh trưởng (trước trỗ, trỗ, chín).
- Phân tích chất lượng: Xác định hàm lượng amylose (AC), nhiệt hóa hồ (GT), tỷ lệ bạc bụng và đánh giá chất lượng mì gạo chế biến thực nghiệm.
| Nhóm phương pháp |
Đối tượng / Chỉ tiêu đo lường |
Công cụ / Kỹ thuật chính |
| Khảo nghiệm nông học |
Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu |
Thí nghiệm đồng ruộng đa điểm (Sơn La, Hà Nội, Nghệ An) |
| Giải phẫu học thực vật |
Cấu trúc lát cắt mô rễ, lóng gốc thân, lóng cổ bông, hệ bó mạch lớn và nhỏ |
Kỹ thuật cắt lát vi thể, kính hiển vi quang học (thước đo bar 100-125 µm) |
| Sinh lý thực vật |
Cường độ quang hợp, chỉ số SPAD, động thái chất khô, hệ số tán $k$ |
Máy đo quang hợp, máy đo SPAD, cân sấy sinh khối |
| Hóa sinh và chất lượng |
Hàm lượng NSC (thân, bẹ lá, bông), hàm lượng amylose, nhiệt hóa hồ, sợi mì gạo |
Phương pháp hóa sinh so màu, phân tích nhiệt hóa hồ, thử nghiệm chế biến sợi mì |
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1 và Phần 2: Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu
Phần này trình bày tính cấp thiết, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Tổng quan tài liệu hệ thống hóa các thành tựu về hình thái giải phẫu rễ, thân, bông; đặc điểm quang hợp, tích lũy chất khô và điều động NSC; lịch sử cải tiến kiểu cây, thời gian sinh trưởng, năng suất và chất lượng hạt; cơ sở lai xa indica x japonica, ứng dụng dòng CSSLs; cũng như ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh và phân bón đến cây lúa.
Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày nguồn gốc 24 dòng lúa nghiên cứu (23 dòng CSSL mang đoạn nhiễm sắc thể của Asominori trên nền IR24 hoặc ngược lại nhập từ Đại học Kyushu, Đại học Nagoya và 1 dòng DCG66 từ Dự án JICA-DCGV tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Mô tả chi tiết phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng tại Sơn La, Hà Nội, Nghệ An; thí nghiệm chậu vại với 3 mức đạm; quy trình thu mẫu, kỹ thuật làm tiêu bản giải phẫu lát cắt vi thể rễ, lóng gốc, cổ bông; phương pháp đo quang hợp, chỉ số SPAD, phân tích hàm lượng nitơ, NSC và đánh giá chất lượng chế biến mì gạo.
Mục 4.1: Đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng của các dòng lúa được tạo ra do lai giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori
Mục này đánh giá hình thái nông học của 24 dòng lúa lai xa và kiểm chứng tại 3 vùng sinh thái qua 2 vụ gieo trồng năm 2017:
- Đánh giá hình thái và cấu trúc: Các dòng lúa có sự phân ly về thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, kích thước lá đòng, cấu trúc lóng thân và cấu trúc bông. Từ 24 dòng ban đầu, đề tài sàng lọc được 2 dòng ưu tú là DCG66 và IAS66.
- Kết quả khảo nghiệm năng suất tại 3 vùng sinh thái (Sơn La, Hà Nội, Nghệ An):
- Dòng DCG66: Đường kính lóng gốc và lóng cổ bông to, số hạt/bông lớn. Năng suất thực thu đạt 68,5 - 71,2 tạ/ha trong vụ xuân 2017 và 60,2 - 64,5 tạ/ha trong vụ mùa 2017.
- Dòng IAS66: Đẻ nhánh gọn, bộ lá xanh đậm, góc lá đòng nhỏ, thời gian sinh trưởng phù hợp. Năng suất thực thu đạt 51,8 - 60,1 tạ/ha trong vụ xuân 2017 và 47,1 - 52,3 tạ/ha trong vụ mùa 2017.
- Tương quan nông học: Năng suất thực thu có tương quan thuận với số hạt/bông và tốc độ tích lũy chất khô (CGR) ở cả hai vụ tại cả 3 vùng trồng.
- Đánh giá phẩm chất hạt: Dòng DCG66 có kích thước hạt cân đối, hàm lượng amylose cao đạt 30%, nhiệt hóa hồ thấp, độ hao hụt tinh bột khi nấu thấp, thích hợp cho chế biến sợi mì gạo có độ dai và độ bóng.
Mục 4.2: Đặc điểm hình thái, giải phẫu và quang hợp của các dòng lúa triển vọng và bố mẹ
Mục này phân tích cấu trúc giải phẫu vi thể và cơ chế sinh lý của DCG66, IAS66 so với bố mẹ đối chứng (IR24 và Asominori) dưới các mức bón đạm:
- Đặc điểm giải phẫu: Số lượng bó mạch lớn ở lóng cổ bông của DCG66 và IAS66 vượt lần lượt 17,9% và 14,9% so với giống bố mẹ IR24. Dòng DCG66 có tổng diện tích bề mặt rễ, đường kính rễ và tổng số bó mạch ở lóng gốc cao hơn IR24 và IAS66.
- Mối quan hệ giữa giải phẫu và năng suất cá thể (NSCT):
- Số bó mạch lớn cổ bông tương quan thuận với số gié cấp 1/bông.
- Số bó mạch nhỏ cổ bông tương quan thuận với số gié cấp 2/bông.
- Đường kính rễ và tổng số bó mạch cổ bông tương quan thuận chặt chẽ với năng suất cá thể.
- Đặc điểm quang hợp và chuyển hóa NSC dưới các mức đạm:
- Cường độ quang hợp giai đoạn trỗ của DCG66 và IAS66 cao hơn IR24 ở mức đạm cao (2g N/chậu). Cường độ quang hợp giai đoạn trỗ tương quan thuận với năng suất cá thể.
- Dòng DCG66 có hàm lượng carbohydrate không cấu trúc (NSC) tích lũy trong thân và bẹ lá trước trỗ cao, đồng thời tỷ lệ tinh bột vận chuyển về bông ở giai đoạn chín cao hơn IR24 và Asominori dưới mức đạm trung bình (1g N/chậu).
- Hiệu quả sử dụng đạm: Dòng DCG66 đạt hiệu quả sử dụng đạm nông học (ANUE) cao nhất ở mức đạm trung bình (1g N/chậu), đạt 46,4 g/cây, giúp duy trì năng suất cá thể vượt trội so với IR24.
| Chỉ tiêu nông sinh học / giải phẫu |
Dòng mới DCG66 |
Dòng mới IAS66 |
Đối chứng bố mẹ IR24 |
| Năng suất thực thu vụ xuân (tạ/ha) |
68,5 - 71,2 |
51,8 - 60,1 |
Đối chứng so sánh |
| Năng suất thực thu vụ mùa (tạ/ha) |
60,2 - 64,5 |
47,1 - 52,3 |
Đối chứng so sánh |
| Số bó mạch lớn lóng cổ bông |
Vượt 17,9% so với IR24 |
Vượt 14,9% so với IR24 |
Chuẩn đối chứng (100%) |
| Hàm lượng Amylose (%) |
30% |
- |
- |
| Hiệu quả sử dụng đạm (ANUE) tại mức 1g N/chậu |
46,4 g/cây |
Thấp hơn DCG66 |
Thấp hơn DCG66 |
| Đặc tính hình thái nổi bật |
Lóng gốc/cổ bông to, bông nhiều hạt |
Đẻ nhánh gọn, lá xanh, góc lá nhỏ |
Hình thái indica chuẩn |
Mục 4.3: Bước đầu xây dựng biện pháp kỹ thuật canh tác cho dòng lúa mới DCG66
Mục này xác định tổ hợp phân bón và mật độ cấy tối ưu cho dòng DCG66 qua các thí nghiệm đồng ruộng tại Hà Nội (vụ mùa 2017 và vụ xuân 2018):
- Tác động đến sinh trưởng và hình thái: Mức phân bón và mật độ ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, chiều cao cây và số gié cấp 1/bông của dòng DCG66 ở cả hai vụ mùa và xuân.
- Chỉ số sinh lý và cấu trúc tán: Đánh giá chỉ số SPAD ở các giai đoạn đẻ nhánh rộ, trỗ và chín; xác định hệ số tán lá $k$ giảm dần từ giai đoạn đẻ nhánh đến chín, hỗ trợ ánh sáng phân bố sâu vào các tầng lá dưới; tốc độ tích lũy chất khô (CGR) đạt giá trị tối ưu ở các công thức bón đạm cân đối.
- Tình hình sâu bệnh: Theo dõi mức độ gây hại của sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu qua các thời kỳ sinh trưởng theo các mức bón phân và mật độ cấy.
- Cấu thành năng suất và năng suất thực thu: Tổ hợp phân bón 110 kg N + 110 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha kết hợp mật độ cấy 40 khóm/m2 cho các yếu tố cấu thành năng suất (số bông/m2, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc, P1000) đạt giá trị tối ưu. Năng suất thực thu đạt 69,5 tạ/ha trong vụ mùa 2017 và 70,7 tạ/ha trong vụ xuân 2018 (vụ xuân 2018 đạt 71,0 tạ/ha).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu và sinh lý tạo năng suất cao của dòng lúa lai xa indica x japonica (DCG66): Năng suất cao được quy định bởi sự phối hợp giữa hệ thống rễ phát triển (diện tích bề mặt rễ lớn, đường kính rễ to), số lượng bó mạch lóng gốc và lóng cổ bông cao ở giai đoạn trỗ, khả năng tích lũy carbohydrate không cấu trúc (NSC) ở thân và bẹ lá trước trỗ lớn và hiệu suất vận chuyển tinh bột về bông cao ở giai đoạn chín trên nền đạm bón trung bình.
- Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về ưu thế giải phẫu bó mạch, đặc điểm quang hợp và hiệu quả sử dụng phân đạm (ANUE, PNUE, BNUE) của các dòng mang đoạn nhiễm sắc thể thay thế (CSSLs) có nguồn gốc từ cặp lai IR24 x Asominori.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Tuyển chọn được dòng lúa mới triển vọng DCG66 có thời gian sinh trưởng ngắn, số hạt/bông lớn, năng suất thực thu ổn định đạt từ 68,5 đến 71,2 tạ/ha (vụ xuân) và 60,2 đến 64,5 tạ/ha (vụ mùa) tại 3 vùng sinh thái (Sơn La, Hà Nội, Nghệ An).
- Xác định dòng lúa DCG66 có hàm lượng amylose cao (30%), nhiệt hóa hồ thấp, đáp ứng tiêu chuẩn nguyên liệu chế biến sợi mì gạo.
- Xác định quy trình kỹ thuật canh tác thích hợp cho dòng DCG66 tại Hà Nội: Mức phân bón 110 kg N + 110 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha kết hợp mật độ cấy 40 khóm/m2, cho năng suất thực thu đạt 69,5 tạ/ha (vụ mùa) và 70,7 tạ/ha (vụ xuân).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Các thí nghiệm phân tích sâu về sinh lý quang hợp, động thái NSC và giải phẫu lát cắt vi thể dưới các mức đạm chủ yếu thực hiện trong điều kiện chậu vại tại trạm thí nghiệm.
- Khảo nghiệm kỹ thuật canh tác (liều lượng phân bón N-P-K và mật độ cấy) mới tập trung khảo sát tại vùng đồng bằng sông Hồng (Gia Lâm, Hà Nội) trong 2 vụ (mùa 2017 và xuân 2018), chưa triển khai đồng bộ quy trình canh tác đa yếu tố tại các vùng sinh thái Sơn La và Nghệ An.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo nghiệm sản xuất và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cho dòng DCG66 tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.
- Nghiên cứu nhận dạng các đoạn nhiễm sắc thể thay thế (QTL/gen) cụ thể quy định các tính trạng rễ to, tăng số lượng bó mạch cổ bông và hiệu quả tích lũy NSC trên dòng DCG66 để ứng dụng chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS).
- Hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến mì gạo từ nguồn nguyên liệu gạo DCG66 ở quy mô bán công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà khoa học chuyên ngành Khoa học cây trồng, Di truyền và Chọn giống cây trồng: Tham khảo phương pháp nghiên cứu giải phẫu hệ mạch dẫn, kỹ thuật phân tích động thái carbohydrate không cấu trúc (NSC) và phương pháp đánh giá dòng mang đoạn nhiễm sắc thể thay thế (CSSLs).
- Giảng viên các trường đại học khối nông nghiệp: Sử dụng số liệu thực nghiệm làm bài giảng trong các học phần Cây lương thực, Sinh lý thực vật ứng dụng và Chọn giống cây trồng.
- Cán bộ khuyến nông và nhà quản lý sản xuất nông nghiệp: Ứng dụng quy trình bón phân cân đối kết hợp mật độ cấy cho các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao.
- Các doanh nghiệp và cơ sở chế biến nông sản: Tham khảo dữ liệu về đặc tính hóa sinh hạt (hàm lượng amylose 30%, nhiệt hóa hồ thấp) của dòng DCG66 để xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ chế biến mì gạo và bún.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Dòng lúa mới DCG66 có nguồn gốc từ đâu và sở hữu những đặc điểm nông học cơ bản nào?
Dòng lúa DCG66 được chọn lọc từ quần thể phân ly của tổ hợp lai xa giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori thuộc Dự án JICA-DCGV tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Về đặc điểm nông học, DCG66 có đường kính lóng gốc và lóng cổ bông to, số hạt trên bông lớn, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất thực thu đạt 68,5 - 71,2 tạ/ha trong vụ xuân và 60,2 - 64,5 tạ/ha trong vụ mùa tại cả 3 vùng sinh thái (Sơn La, Hà Nội, Nghệ An).
Câu hỏi 2: Cấu trúc giải phẫu hệ thống mạch dẫn và bộ rễ của dòng DCG66 có điểm gì khác biệt so với giống bố mẹ?
Dòng DCG66 có số lượng bó mạch lớn ở lóng cổ bông vượt 17,9% so với giống bố mẹ đối chứng IR24. Đồng thời, DCG66 có tổng diện tích bề mặt rễ, đường kính rễ và tổng số bó mạch ở lóng gốc lớn hơn cả dòng IAS66 và giống IR24. Số lượng bó mạch lớn và nhỏ ở cổ bông của dòng tương quan thuận với số gié cấp 1 và cấp 2 trên bông.
Câu hỏi 3: Động thái tích lũy, vận chuyển carbohydrate không cấu trúc (NSC) và hiệu quả sử dụng đạm của dòng DCG66 diễn ra như thế nào?
Dưới mức bón đạm trung bình (1g N/chậu), dòng DCG66 tích lũy hàm lượng NSC cao ở thân và bẹ lá trước trỗ, sau đó vận chuyển lượng tinh bột lớn về bông ở giai đoạn chín so với IR24 và Asominori. Nhờ cơ chế này, DCG66 đạt hiệu quả sử dụng đạm nông học (ANUE) cao nhất là 46,4 g/cây ở mức đạm trung bình.
Câu hỏi 4: Vì sao dòng lúa DCG66 được đánh giá phù hợp cho mục đích chế biến mì gạo?
Phân tích hóa sinh cho thấy hạt gạo của dòng DCG66 có hàm lượng amylose cao đạt 30%, nhiệt hóa hồ thấp và mức độ hao hụt tinh bột khi nấu thấp. Các chỉ tiêu này đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật giúp sợi mì sau khi chế biến có độ dai, bề mặt sáng và ít bị đứt gãy.
Câu hỏi 5: Mức phân bón và mật độ cấy nào được xác định là tối ưu cho dòng DCG66 tại vùng Hà Nội?
Kết quả thí nghiệm đồng ruộng tại Gia Lâm (Hà Nội) xác định mức bón 110 kg N + 110 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha kết hợp mật độ cấy 40 khóm/m2 là thích hợp nhất cho dòng DCG66, đạt năng suất thực thu 69,5 tạ/ha trong vụ mùa 2017 và 70,7 tạ/ha trong vụ xuân 2018 (vụ xuân 2018 đạt 71,0 tạ/ha).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Hồng Hạnh đã đánh giá toàn diện đặc điểm nông sinh học, hình thái giải phẫu và sinh lý của các dòng lúa mang đoạn nhiễm sắc thể thay thế từ tổ hợp lai giữa giống indica IR24 và giống japonica Asominori. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cấu trúc bó mạch cổ bông, diện tích bề mặt rễ, động thái vận chuyển carbohydrate không cấu trúc với khả năng tạo năng suất cá thể và hiệu quả sử dụng đạm. Kết quả thực tiễn đã lựa chọn được dòng lúa DCG66 có năng suất ổn định, hàm lượng amylose cao (30%) phục vụ chế biến mì gạo và xác định được quy trình bón phân kết hợp mật độ cấy phù hợp tại vùng đồng bằng sông Hồng.