Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây ớt cây (Capsicum annuum L.) có tên khoa học là Capsicum và thuộc họ Cà (Solanaceae) là loại cây rau gia vị có lịch sử trồng trọt từ lâu đời, rất được ưa chuộng và được trồng khắp thế giới vì nó có khả năng thích ứng rộng và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ở Việt Nam cây ớt được trồng ở nhiều địa phương như: Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Tiền Giang,… Cây ớt là cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, bên cạnh đó ớt có thể trồng trên vùng rau màu chuyên canh hoặc có thể trồng trong cơ cấu cây trồng vụ Đông trên đất lúa. Năng suất giống ớt cay phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng như: Đặc tính di truyền của giống có tính trạng quí về tiềm năng năng suất, chất lượng quả, tính kháng bệnh, điều kiện ngoại cảnh, biện pháp kỹ thuật.
Để có năng suất cao, giống cần phải có các yếu tố tạo thành năng suất tốt như: Tỷ lệ đậu quả, số quả trên cây, khối lượng trung bình quả. Các giống ớt được phân lập thành từng nhóm như thời gian sinh trưởng, tính chín sớm, mục đích sử dụng, kích thước quả, khối lượng quả,…Giống được chọn lọc di truyền giữa kiểu gen và kiểu hình rất đa dạng về khối lượng, kích thước, màu sắc quả, hình dạng sinh trưởng,…đặc biệt một số giống có dạng quả đẹp, chất lượng quả tốt, năng suất cá thể cao, đó là nguồn vật liệu quí giá và là cơ sở để tạo các giống ớt. Mật độ khoảng cách có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng ớt. Do đó muốn đạt sản lượng cao cần bảo đảm mật độ trồng thích hợp.
Mật độ là số cây trên đơn vị diện tích, còn khoảng cảnh là cự ly các cây được bố trí trên đồng ruộng. Nếu trồng mật độ thấp thì từng cây sinh trưởng tốt, quả to, dài, n 5 nhưng số lượng cây ít, năng suất không tăng. Nếu mật độ cao thì số cây trên đơn vị diện tích tăng, nhưng cây nhỏ, quả bé, do đó năng suất không cao. Vì vậy cần xác định mật độ hợp lý.
Để xác định mật độ thích hợp cần dựa vào giống, chế độ dinh dưỡng, đất đai, mùa vụ và kỹ thuật chăm sóc. Giống có thời gian sinh trưởng dài cần trồng thưa hơn giống ngắn ngày. Mật độ ớt biến động từ 22,078 – 30,357 ngàn cây/ha. Có nhiều cách bố trí cây trồng trên đồng ruộng, khoách cách hàng biến động từ 60 – 80cm, phổ biến nhất là 70cm.
Khoảng cách cây từ 40 – 55cm. Trồng ớt có hàng rộng theo khoảng cách hàng và khoảng cách cây hẹp nhằm tạo thuận lợi cho chăm sóc, đảm bảo mật độ và lợi dụng ưu thế sinh trưởng biên. Hiện nay các giống ớt đang trồng khá đa dạng phần lớn là các giống do các công ty nước ngoài cung cấp, xong việc thử nghiệm để lựa chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng khu vực thì còn nhiều hạn chế. Thái Nguyên là thị trường tiêu thụ ớt khá mạnh, do vậy nếu lựa chọn được giống tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên để khuyến cáo đưa vào sản xuất chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cho người sản xuất.
Yêu cầu sinh thái của cây ớt 1. Nhiệt độ Cây ớt có nguồn gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ, do đó là cây ưa nhiệt. Cây yêu cầu khí hậu ấm áp, có thời gian sinh trưởng dài. Phạm vi nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng là 18 – 300C.
Nhiệt độ thấp dưới 150C và cao trên 320C cây sinh trưởng kém, hoa bị rụng nhiều (Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Anh Cường, 2007) [11]. Theo các tác giả Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996 [1] thì nhiệt độ ngày/đêm bằng 250C/180C là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và số hạt trên quả. Nhiệt độ ban đêm thấp ( 8 – 100C và 150C) làm giảm tỷ lệ đậu quả và thường sinh ra quả không hạt, nhiệt độ ban đêm thích hợp nhất trong giai đoạn nở hoa là 200C. n 6 Nhìn chung ớt có thể chịu được nhiệt độ cao hơn so với khoai tây và cà chua, tuy nhiên hoa không thụ tinh ở nhiệt độ dưới 160C hoặc trên 320C do số lượng hạt phấn ít.
Nhiệt độ tối cao cho hoa đậu là nhiệt độ ban ngày và ban đêm trong khoảng 16 – 210C, nhiệt độ ban ngày trên 240C dẫn đến hiện tượng rụng hoa, những quả đậu có thể bị rụng nếu nhiệt độ trên 320C (Bosland P. Ánh sáng Ớt là cây không cảm quang nhưng cần nhiều ánh sáng. Tuy vậy trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay thường phát triển tốt và cho năng suất cao. Độ che rợp quá 40%, thiếu ánh sáng, cây ớt chậm ra hoa và rụng nụ nhiều (Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Anh Cường, 2007) [11].
Ảnh hưởng của ánh sáng đến cây trồng bao gồm thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng. ỚT là cây trồng không mẫn cảm với quang chu kỳ (ở nước ta ớt có thể trồng được quanh năm), tuy nhiên trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn (9 – 10 giờ/ngày) sẽ kích thích cây sinh trưởng tăng năng suất từ 21 – 24% (Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [1]. Theo Bigotti (1974) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến sinh trưởng, phát triển của ớt ông cho rằng, giảm bức xạ mặt trời xuống còn 50% sẽ tăng khối lượng quả mà không ảnh hưởng đến hàm lượng capsaicin và vitamin C. Trong điều kiện thời tiết âm u sẽ hạn chế sự đậu quả và giảm năng suất (Mai Thị Phương Anh, 1999) [2].
Ẩm độ Cây ớt rất thích hợp với chế độ ấm ẩm. Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện lượng mưa từ 600 – 1250 mm và phân bố trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển. Lượng mưa lớn trong thời gian hoa nở là nguyên nhân của sự rụng hoa, tỷ lệ đậu quả thấp. Trong điều kiện khô hạn sẽ kích n 7 thích quá trình chín của quả còn thời kỳ chín lượng mưa lớn sẽ làm cho trái bị thối hỏng (Mai Thị Phương Anh, 1999) [2].
Theo tác gia Mai Thị Phương Anh (1999) [2], thì ẩm độ đất thấp không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả nhưng làm tăng tỷ lệ rụng quả. Nếu ẩm độ khoảng 10% tỷ lệ rụng là 71,2% trong khi ẩm độ 55 – 58% thì tỷ lệ rụng quả chỉ còn 20 – 30%. Nếu ẩm độ thấp hơn 70% ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả thì quả sẽ bị cong, vỏ sần sùi, giảm giá trị thương phẩm. Ẩm độ thích hợp nên duy trì ản độ đồng ruộng khoảng 70 – 80%.
Cây ớt rất mẫn cảm với điều kiện ngập úng, trong điều kiện ngập úng cây bị rụng lá, rễ thối hỏng (Mai Thị Phương Anh, 1999; Bosland P. Ớt chịu hạn khá, tuy vậy ở thời kỳ ra hoa, đậu quả, nếu bị khô hạn, độ ẩm đất thấp dưới 70% hoa dễ rụng, quả bị cong và sần sùi. Ớt không chịu được úng, độ ẩm đất quá cao làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc. Thiếu ánh sáng, ẩm độ đất và không khí cao cây sinh trưởng yếu ớt và dễ bị bệnh (Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Anh Cường, 2007) [11].
Đất Cây ớt không kén đất, tuy vậy đất cần nhiều mùn, không chua mặn, thoát nước tốt. Đất phù hợp nhất là đất thịt nhẹ, giàu canxi, ớt cũng có thể sinh trưởng, cho năng suất ở trên đất cát nhưng phải đảm bảo chế độ nước và phân bón đầy đủ. Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển, cây sinh trưởng trên đất màu mỡ thì tính chín sớm bị ảnh hưởng. Ớt là cây chịu mặn, hạt có thể nảy mầm ngay cả ở nồng độ muối 400 ppm và pH 7,6 (Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996; Mai Thị Phương Anh,1999) [1], [2].
Về độ pH đất, cây có thể sinh trưởng được ở độ pH từ 6 – 7 nhưng lý tưởng nhất là 6 – 6,5 (Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [1]. Chất dinh dưỡng Nhu cầu dinh dưỡng của ớt tương đối lớn do cây sinh trưởng và phát triển mạnh cây vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa ra hoa kết quả, thời gian sinh trưởng và thu hái kéo dài. Cây ớt cũng cần đầy đủ các chất đạm (N), lân (P) và kali (K). Chất đạm và lân giúp cây phát triển thân lá, ra nhiều hoa và sai quả.
Chất kali giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chịu hạn và chống chịu sâu bệnh. Ngoài ra cây ớt cũng rất cần các chất trung – vi lượng nhất là canxi (Ca), bo (B). Thiếu canxi, ớt thường bị thối đáy quả. Thiếu bo cây thấp bé, cằn cỗi, lá nhỏ, biến màu và xoăn lại.
Tuy vậy nếu bón nhiều vôi, thừa canxi cây có thể bị thiếu bo (Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Anh Cường, 2007) [11]. Nghiên cứu về liều lượng bón NPK trên đất trồng ớt ở Thừa Thiên Huế, kết quả cho thấy tỷ lệ NPK thích hợp cho năng suất cao nhất là 150N: 175P: 50K, công thức bón vừa cho năng suất cao, vừa có hiệu quả kinh tế lớn và có tác dụng cải tạo đất là 150N: 75P: 50K (Lê Thị Khánh, 1994) [17]. Một số tài liệu cho rằng nhu cầu về dinh dưỡng cho cây là 100 – 170 kg N/ha; 25 – 50 kg P205; 50 – 100 kg K20 (Bosland, P. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới Cây ớt được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới, theo FAO (2012), năm 2011 diện tích ớt tươi trên thế giới 183.383 ha và sản lượng ớt tươi 29601175.18 tấn, năng suất ớt tươi là 161.96 kg/ha, diện tích ớt khô, ớt bột 20.63 ha và sản lượng ớt khô, ớt bột 3.533 tấn, năng suất ớt khô, ớt bột 17. Châu Á đứng đầu thế giới về năng suất và sản lượng, với 60,5% diện tích và 64,8% sản lượng của toàn thế giới. n 9 Tại Hội thảo Gia vị Thế giới tại New Delhi, các báo cáo cho thấy sản lượng ớt ở những nước sản xuất lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Pêru, Bănglađét, Hungari và những nước khác đang tăng lên với tốc độ tăng khoảng 5,2%. Theo số liệu FAO năm 2007, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng ớt tươi.
Năm 2006 diện tích ớt tươi của nước này chiếm 36% và sản lượng ớt tươi chiếm 50,4% của toàn thế giới.