Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa Lily Cây hoa Lily có nguồn gốc ôn đới, được nhập khẩu về Việt Nam từ châu Âu, được thị trường ưa thích bởi vẻ đẹp rất đặc trưng, qúy phái, có hương thơm dịu mát, có nhiều mầu sắc khác nhau.
Trong những năm gần đây được phát triển mạnh ở nhiều địa phương trên cả nước. Các giống Lily đưa vào sản xuất chủ yếu nhập từ Hà Lan, Đài Loan và Trung Quốc, mỗi giống có các đặc trưng, đặc tính khác nhau, như đặc điểm về hình thái, thời gian sinh trưởng, yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh. do vậy, việc chọn giống đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa, cũng như thời điểm thu hoạch. Tuy nhiên, chúng chưa được nghiên cứu đánh giá tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng, nên dẫn đến một số giống có chất lượng hoa kém, ít nụ, ít hoa, hoa nhỏ, khó nở và không đẹp.
gây khó khăn cho người sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại. Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa Lily sẽ giúp chúng ta nắm được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng thích ứng của chúng với điều kiện sinh thái của vùng, từ đó có thể lựa chọn những giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất (Phạm Thị Mai Chinh, 2007)[2]. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hoa Lily Đối với cây hoa Lily là loại hoa cao cấp được nhập từ châu Âu vào Việt Nam và đã được trồng khá phổ biến tại một số tỉnh. Tuy nhiên hoa Lily chỉ n 4 thích hợp sản xuất vào khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12, các tháng còn lại do nhiệt độ cao cây sẽ sinh trưởng phát triển kém.
Nguyên sản của cây hoa Lily là vùng khí hậu ôn đới, do có giá trị cao về mặt kinh tế nên cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi tại một số nước trên thế giới, nơi có điều kiện tự nhiên khác xa so với nơi nguyên sản. Trong những điều kiện như vậy muốn cây sinh trưởng, phát triển tốt cần phải nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất hoa Lily [2]. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá Các cơ quan trên mặt đất của cây đều có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng dưới dạng khí: CO2, O2, SO2. đặc biệt là lá cây, các chất này được hấp thu rất nhiều qua khí khổng, do vậy sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch qua các cơ quan trên mặt đất là hoàn toàn có thể thực hiện được, tuy nhiên khả năng hấp thu sẽ khó khăn hơn.
Tầng cutin bên ngoài cùng của lá có thể thay đổi theo loài thực vật và tuổi thọ của cây, ở trên tầng này có nhiều lỗ siêu nhỏ, mật độ của các lỗ trên tầng cutin rất cao (1010 lỗ/cm2). Các lỗ này có đường kính 1 nm do đó dễ dàng cho các chất hoà tan có kích cỡ lớn nhất là Urê (đường kính 0,04 nm) đi qua nhưng nó lại không cho các phân tử có đường kính lớn hơn (phân tử hữu cơ, che lat) đi qua. Thuật ngữ “Foliar application” đã rất nổi tiếng ở các nước phát triển châu Âu và châu Mỹ, đó là một phương pháp dùng phân khoáng dạng dung dịch để phun lên lá cung cấp cho cây, một phương pháp đặc biệt có hiệu quả nhanh và có nhiều ưu điểm nổi bật. Phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt quan trọng trong các trường hợp sau: - Tầng đất mặt nghèo dinh dưỡng, khả năng dinh dưỡng của cây bị hạn chế.
- Đất bị khô hạn không thể cung cấp dinh dưỡng vào đất. - Dinh dưỡng qua lá là phương pháp rất phổ biến với các nguyên tố trung lượng như: Mg, S và vi lượng được yêu cầu với liều lượng nhỏ, phương n 5 pháp dinh dưỡng qua lá hoàn toàn có thể thoả mãn nhu cầu của cây khi được sử dụng 2 - 3 lần vào những thời điểm thích hợp. - Hiệu lực nhanh chỉ sau vài phút cây có thể hấp thụ ngay do vậy rất có hiệu quả để điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng (ngay cả đối với nguyên tố đa lượng như: đạm, kali) của cây khi chuyển giai đoạn từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực. Lúc này các chất dinh dưỡng được tập trung vào hình thành cơ quan sinh sản làm giảm sinh trưởng của bộ rễ, giảm hút khoáng dẫn đến mất cân bằng, nên việc bổ sung qua lá sẽ khắc phục được tình trạng trên.
- Cây sử dụng phân phun lên lá nhanh chóng nên hiệu lực sử dụng cao, có thể 90%, so với 40 - 50% với đạm khi bón vào đất, do đó hạn chế ô nhiễm đất và nước ngầm. - Phương pháp dinh dưỡng qua lá còn rất hiệu quả khi trong đất có hiện tượng đối kháng ion giũa K+ và Mg2+, khi đó dinh dưỡng vào đất không có hiệu quả thậm chí làm cho cây chết do mất cân bằng. - Bón Mg và các nguyên tố vi lượng làm tăng hàm lượng các nguyên tố đó trong nông sản. Do đó, dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong trường hợp cần nâng cao hàm lượng đạm, khoáng chất trong nông sản, cải thiện chất lượng nông sản là vấn đề đang được nhân loại cũng như các nhà dinh dưỡng cây trồng quan tâm (Trương Thị Cẩm Nhung, 2009)[7].
Cơ sở khoa học của việc sử dụng canxi nitrat Ca(NO3)2 trong sản xuất nông nghiệp Canxi nitrat Ca(NO3)2 là dạng phân đạm nitrat phổ biến, có chứa canxi, là chất dinh dưỡng trung lượng đối với cây trồng. Thành phần: 13,0-15,5%N, 25-36% CaO. Trong thực tế phân này thường có 15-15,5%N và khoảng 25% CaO. Loại phân này có tính chất dạng tinh thể hình viên tròn mầu trắng đục, hòa tan nhanh trong nước, chứa đạm ở dạng NO3 nên không bị đất hấp thu, dễ được cây hấp thu ngay cả trong điều kiện bất lợi như khô hạn, lạnh, đất chua, n 6 mặn.
nhưng dễ bị rửa trôi. Phân có khả năng làm giảm độ chua của đất, khi bón vào đất phân nhanh chóng hòa tan vào dung dịch đất để cho cây sử dụng và tham gia vào phản ứng trao đổi keo đất. Loại phân này rất thích hợp cho cây trồng cạn, đặc biệt cho các cây trồng trong điều kiện khó khăn và trên đất mà việc chuyển hóa đạm ở trong đất bị ức chế, rất thích hợp để bón thúc cho cây trồng cạn và phun lên lá cho cây trồng, vừa cung cấp đạm vừa cung cấp canxi cho cây trồng, giúp cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu rét [7]. Sử dụng phân bón lá đối với hoa Lily Đối với hoa lily ngoài việc sử dụng các loại phân đa lượng NPK, việc bổ sung dinh dưỡng bằng Phân bón qua lá có vai trò hết sức quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng hoa.
Các loại phân bón qua lá được nghiên cứu sử dụng trên hoa và cây cảnh nói chung và trên hoa Lily hiện nay được phối hợp nhiều chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng và các axit amin được phối hợp với các chất phức hoạt nhằm tăng khả năng bám dính và khả năng thẩm thấu nhanh chất dinh dưỡng vào trong cây, bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây đặc biệt vào các giai đoạn khủng hoảng về dinh dưỡng, giúp cho cây cứng khoẻ, tăng cường sức chống chịu, nhất là giai đoạn cây phân hóa mầm hoa và phát triển nụ hoa. Sử dụng phân bón qua lá có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển đường kính thân, kích thước lá, số nụ và thời gian sinh trưởng của hoa Lily; bón phân N:P:K có tỷ lệ cân đối và hàm lượng đạm amin và axit amin đầy đủ giúp cây phát triển mạnh, tăng cường quá trình quang hợp vận chuyển và tích lũy chất hữu cơ, đồng thời kích thích quá trình phát triển nụ, do vậy rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng phát triển và điều chỉnh thời gian nở hoa sao cho đúng các dịp lễ tết…Mặt khác, việc sử dụng phân bón qua lá trên hoa Lily đã không phải bón thúc bổ sung cho cây bất kỳ loại phân bón nào khác, điều này cũng đã giảm một phần chi phí công lao động trong sản xuất. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh trưởng phát dục và yêu cầu ngoại ảnh của hoa Lily a) Nguồn gốc Hoa Lily trên thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và đây cũng là nước trồng hoa Lily sớm nhất.
Những nghiên cứu cho rằng việc trồng Lily để lấy củ ăn, làm thuốc bắt đầu từ đời nhà Đường (Trung Quốc), nhưng trước đó cũng có nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của hoa Lily, như vậy hoa Lily được trồng lúc đầu với hai mục đích làm thuốc và thưởng thức vẻ đẹp. Đến cuối thế kỷ XVI các nhà thực vật học người Anh đã phát hiện và đặt tên cho các giống Lily, đến đầu thế kỷ XVII Lily được di thực từ châu Âu sang châu Mỹ và đến thế kỷ XVIII các giống Lily của Trung Quốc di thực sang châu Âu nhờ vẻ đẹp và hương thơm nên nó nhanh chóng phát triển và được coi là cây quan trọng của châu Âu và châu Mỹ. b) Đặc điểm thực vật học Lily là cây thân thảo lâu năm, phần dưới mặt đất gồm thân vẩy, thân vẩy con, thân rễ và rễ. Phần trên mặt đất gồm lá, cán thân, mầm hạt (một số không có mầm hạt) * Thân vẩy Thân vẩy là phần phình to của thân biến thành, trên đĩa thân vẩy có vài chục vẩy hợp lại, có hình cầu dẹt, hình trứng, hình trứng dài, hình elip… Chất đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vẩy ảnh hưởng đến hình thái thân, không có vỏ bao bọc.
Mầu sắc thân vẩy tuỳ theo loài, giống khác nhau có mầu trắng, vàng, đỏ cam, đỏ tím… Độ lớn của thân vẩy khác nhau do loài, giống. Loại nhỏ chu vi 6 cm nặng 7-8g, loại to chu vi 24-25 cm nặng trên 100g, loại đặc biệt chu vi 34-35 cm nặng 350g. Độ lớn của thân vẩy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa.