Đặt vấn đề Đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á, một loài đã có từ lâu đời được xem là loại “cây kỳ lạ”,”vàng mọc từ đất”, “cây đỗ thần”,”cây thay thịt”… Sở dĩ cây đậu tương được người ta đánh giá cao như vậy chỉ yếu do giá trị kinh tế của nó. Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara. đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc. Ngoài ra, trong cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác.
Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng 38- 40% cao hơn cả ở cá, thịt và cao gấp hai lần hàm lượng protein trong các loại họ đỗ khác, lipit từ 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng. Đậu tương là loại hạt duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protit và lipit. Hàm lượng của các axit amin có chứa lưu huỳnh như methionin, sistein, sixtin… của đỗ tương rất gần với hàm lượng của các chất này của trứng.
Vì thế mà khi nói gía trị của protein ở đậu tương cao là nói hàm lườn lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của các loại axit amin cần thiết. Ngày nay người ta mới biết thêm nó có chứa chất lexithin có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, làm tăng thêm trí nhớ và tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lên cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm ngon, dùng dầu đậu tương thay mỡ đậu vật có thể tránh được xơ mỡ động mạch.
Trong hạt đậu tương còn có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt hàm lượng của vitamin B1 và B2, PP,A,E,K2,D… và các loại muối kháng khác.Đậu tương còn 1 là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim gan, thận, dạ dày, và ruột, làm thức ăn tốt cho bệnh dái tháo đường, thấp khớp,thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng. Các chất lexithin và cazein có trong hạt đậu tương còn có thẻ dùng riêng hoặc phối hợp để làm thuốc bổ dưỡng. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á. Ở nước ta đậu tuong được gieo trồng trên cả 7 vùng sinh thái, miền Bắc được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc, Lào Cai… và Đồng Bằng Sông Hồng.
Việt Nam có điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt. Vì vậy các nhà chọn tạo giống đã và đang nghiên cứu tạo ra những giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng và khả năng thích nghi với các điều điện bất lợi và chống chịu các loại sâu bệnh hại. Mặc dù tiềm năng còn khá nhiều nhưng việc mở rộng diện tích còn bị nhiều hạn chế như thời vụ, gía cả, thị trường … nên cần nhiều biện pháp để hạn chế, cần nhanh chóng nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới nông nghiệp để chọn tạp ra các giống chất lượng. Trong đó quá trình chọn tạo giống đậu tương, khảo sát là một trong các bước quan trọng nhằm đề ra một số dòng giống có triển vọng để đưa vào so sánh giống.
Góp phần để giải quyết vấn đề đó chúng tôi dã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất tập đoàn đậu tương trong điều kiện vụ Xuân tại Gia Lâm, Hà Nội” 1. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá được các chỉ tiêu, hình thái, đặc điểm sinh trưởng, khả năng chống chịu và năng suất giữa các giống đậu tương. Từ đó đề xuất xác định một số dòng, giống có triển vọng cho công tác chọn tạo giống tiếp theo.
Yêu cầu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, đặc điểm hình thái của tập đoàn đậu tương trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội. - Theo dõi tốc độ sinh trưởng và phát triển của từng giống đậu tương tại Gia Lâm – Hà Nội - Theo dõi khả năng chống chịu và tỉ lệ nhiễm sâu bệnh hại của từng giống đậu tương trong vụ Xuân 2021 - Xác định yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và phân loại 2.
Nguồn gốc Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Một trong những loại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gốc của cây đậu tương cũng sớm được xác minh. Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu tương có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Loài đậu tương hoang (Glycine ussuriensis/ Glycine soja) là tổ tiên hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhật bản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền Đông Bắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga.
Chủng hoang dại này tương tự nhưng không phải là đậu tương được trồng hiện nay và chúng có thể lai tạo được với nhau vì đồng nhất về mặt di truyền và thường được sử dụng trong chương trình lai tạo giống để kết nạp một số đặc tính quý đặc biệt được mong đợi trong những giống đậu tương mới được tạo ra. Loài đậu tương (Glycine max) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Á, Ấn Độ…Ghi chép đầu tiên về đậu tương được tìm thấy trong quyển bách khoa toàn thư Trung Quốc bao gồm các loại cây trồng được hoàng đế Cheng – Nung mô tả vào năm 2838 trước công nguyên. Nguồn gốc chính xác và lịch sử trước đó thì không được biết. Về sau đậu tương được đề cập lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ghi chép như là một cây trồng họ đậu quan trọng nhất trên khắp châu Á và đặc biệt là ở Trung Quốc.
Người Trung Quốc gọi một nhóm gồm năm loại hạt cốc thiêng liêng với cái tên là “Wu Ku”. Đậu tương được trồng đầu tiên ở nửa phần phía đông của miền bắc Trung Quốc vào thế kỷ 11 trước công nguyên. Phương thức trồng đậu nành được du 4 nhập vào Triều Tiên từ miền bắc Trung Quốc và vào Nhật Bản vào khoảng từ năm 200 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên. Ngay cả đến ngày nay đậu tương cung cấp một nguồn protein rất quan trọng trong khẩu phần của nhiều quốc gia ở châu Á và là một thực phẩm và sản phẩm công nghiệp cực kỳ có giá trị trên khắp châu Á.
Châu Âu mới biết đến đậu nành từ thế kỷ 18 và trong thế kỷ thứ 19 đậu nành phát triển mạnh ở Châu Mỹ. Quê hương của đậu tương ở Đông Á, nhưng 45% diện tích trồng đậu tương và 55% sản lượng đậu tương của thế giới nằm ở Mỹ. Nước Mỹ sản xuất 84 triệu tấn đậu tương trong năm 2011, trong đó hơn một phần ba được xuất khẩu. Phần lớn sản lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụ đậu tương ở người trên đất nước này đang tăng lên.
Dầu đậu nành chiếm tới 80% lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ. Các nước sản xuất đậu tương lớn là Brasil, Argentina, Trung Quốc và Ấn Độ. Đậu tương là một trong số các cây lương thực đã có nhiều giống được cải biến di truyền hay biến đổi gen (GMO) nhằm tăng năng suất. Hiện nay, khoảng 80% lượng đậu tương được trồng phục vụ thương mại đều là GMO.
Công ty Monsanto là công ty hàng đầu thế giới hiện nay trong sản xuất cây chuyển gen nói chung và đậu tương chuyển gen nói riêng Ở Việt Nam: Một số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây đậu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Phân loại Đậu tương thuộc chi Glycine, họ đậu Leguminosae, họ phụ cánh bướm Papilionoideae và bộ Phaseoleae. Đậu tương có tên khoa học là Glycine max (L. Chi Glycine từng được Carl Linnaeus đưa ra năm 1737 trong ấn bản đầu tiên của quyển Genera Plantarum.Từ glycine có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - glykys (ngọt) và có thể đề cập đến chất ngọt của củ ăn được sản xuất ở Bắc Mỹ có dạng cây đậu thân leo, Glycine apios, nay là Apios americana.
Đậu tương 5 được trồng được xuất hiện đầu tiên trong quyển Species Plantarum của Linnaeus, với tên gọi Phaseolus max L. Việc kết hợp Glycine max (L., theo đề nghị của Merrill năm 1917, đã trở thành tên gọi chính thức được công nhận của loài này. Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng. Theo hệ thống này ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja.
Chi Glycine được chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2 loài: loài đậu tương trồng Glycine max (L.) và loài hoang dại hàng năm G. Soja Sieb và Zucc.1 Phân loại cây đậu tương Loài NST (2n) Đặc tính hình thái Phân bố Chi Glycine Glycine 40 3 lá kép nhỏ hình ô van dài. gân hình Úc clandestina mạng. hoa có màu sắc từ hổng đến tím wendl hồng.
Quả ngắn hình thuôn thẳng hoặc cong, ít hạt màu nâu sáng hoặc đen. Thân mảnh leo nhiều lông nhỏ. Glycine 40 Thân có thể bò sát mặt đất hoặc thẳng, Úc falcata lông cứng. Chùm hoa dài mập với màu sắc Benth từ trắng đến màu hoa cà nhạt.
Quả cong rộng bản có nhiều lông cứng. Hạt hình thuôn hoặc ô van. Glycine 40 Thân khoẻ bò sát hoặc đôi khi leo. Phiến lá Úc latifolia rộng có răng cưa chùm hoa dải, mảnh màu (Benth).
Quả ngắn, nhiều lông tơ hoặc cứng Newell và Hymowitz Glycine 40 Là loại thân nhỏ cứng.