Khóa luận tốt nghiệp đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất tập đoàn đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại gia lâm hà nội

Khóa luận đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất tập đoàn đậu tương vụ xuân tại Gia Lâm, Hà Nội, cung cấp dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu nông nghiệp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT NỘI DUNG KHOÁ LUẬN

1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích, yêu cầu

1.2.1. Mục đích

1.2.2. Yêu cầu

1.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.3.1. Nguồn gốc và phân loại

1.3.1.1. Nguồn gốc
1.3.1.2. Phân loại

1.3.2. Đặc điểm thực vật

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm hình thái của các mẫu giống đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm-Hà Nội

4.1.1. Đặc điểm thân, lá đậu tương

4.1.2. Đặc điểm hoa, quả và hạt

4.1.3. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các mẫu giống đậu tương

4.1.3.1. Thời gian từ gieo đến mọc
4.1.3.2. Thời gian từ mọc đến bắt đầu ra hoa
4.1.3.3. Thời gian từ bắt đầu ra hoa đến kết thúc ra hoa
4.1.3.4. Thời gian từ kết thúc ra hoa đến chín

4.1.4. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các mẫu giống đậu tương. Động thái tăng trưởng chiều cao cây

4.1.5. Số lá, tỷ lệ dài/rộng của các mẫu giống đậu tương

4.1.6. Số đốt, số đốt hữu hiệu và cành cấp 1 của các mẫu giống đậu tương

4.2. Kết quả nghiên cứu mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống đậu tương

4.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống đậu tương tham gia thí nghiệm

4.3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống tham gia thí nghiệm

4.3.2. Năng suất các mẫu giống đậu tương tham gia thí nghiệm

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Sinh trưởng đậu tương

Nghiên cứu tập trung vào sinh trưởng đậu tương trong điều kiện vụ xuân đậu tương tại Gia Lâm, Hà Nội. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, số đốt và cành cấp 1 được theo dõi. Kết quả cho thấy chiều cao cây dao động từ 24,025 đến 42,75 cm, số đốt hữu hiệu từ 4 đến 12, và số cành cấp 1 từ 0 đến 8. Điều này phản ánh sự đa dạng về khả năng sinh trưởng của các giống đậu tương trong cùng điều kiện canh tác.

1.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây

Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh trưởng đậu tương. Các giống đậu tương thí nghiệm có chiều cao cuối cùng dao động từ 24,025 đến 42,75 cm. Sự khác biệt này phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng giống và điều kiện khí hậu Gia Lâm. Chiều cao cây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp và năng suất cuối cùng.

1.2. Số lá và tỷ lệ dài rộng lá

Số lá và tỷ lệ dài/rộng lá là chỉ tiêu quan trọng trong phát triển đậu tương. Số lá ở giai đoạn cuối cùng dao động từ 18,25 đến 64,5 lá/cây. Tỷ lệ dài/rộng lá phản ánh khả năng thích nghi với điều kiện ánh sáng và dinh dưỡng. Các giống có tỷ lệ lá cân đối thường cho năng suất cao hơn.

II. Phát triển đậu tương

Phát triển đậu tương được đánh giá qua các giai đoạn từ gieo đến thu hoạch. Thời gian sinh trưởng của các giống dao động từ 69 đến 113 ngày. Các giai đoạn chính bao gồm từ gieo đến mọc, từ mọc đến ra hoa, từ ra hoa đến kết thúc ra hoa, và từ kết thúc ra hoa đến chín. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về thời gian sinh trưởng giữa các giống.

2.1. Thời gian từ gieo đến mọc

Thời gian từ gieo đến mọc là giai đoạn đầu tiên trong phát triển đậu tương. Các giống có thời gian này dao động từ 5 đến 7 ngày. Đây là giai đoạn quan trọng quyết định sự đồng đều của cây trồng.

2.2. Thời gian từ ra hoa đến chín

Giai đoạn từ ra hoa đến chín là thời kỳ quyết định năng suất đậu tương. Các giống có thời gian này dao động từ 40 đến 60 ngày. Sự chênh lệch này phụ thuộc vào đặc điểm di truyền và điều kiện thời vụ đậu tương.

III. Năng suất đậu tương

Năng suất đậu tương được đánh giá qua các yếu tố cấu thành như số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng 100 hạt. Kết quả cho thấy số quả/cây dao động từ 18,25 đến 64,5 quả/cây, khối lượng 100 hạt từ 5,1 đến 25,0 g. Các giống có năng suất cao thường có số quả và hạt lớn, đồng thời khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.

3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố cấu thành năng suất đậu tương bao gồm số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng hạt. Số quả/cây dao động từ 18,25 đến 64,5 quả/cây, số hạt/quả từ 1 đến 5,25 hạt/quả. Khối lượng 100 hạt dao động từ 5,1 đến 25,0 g. Các yếu tố này quyết định năng suất cuối cùng của từng giống.

3.2. Hiệu quả kinh tế đậu tương

Hiệu quả kinh tế đậu tương được đánh giá qua năng suất và giá trị thị trường. Các giống có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt thường mang lại lợi nhuận cao cho người trồng. Điều này góp phần thúc đẩy nông nghiệp Hà Nội phát triển bền vững.

IV. Kỹ thuật trồng đậu tương

Kỹ thuật trồng đậu tương bao gồm các bước từ làm đất, lên luống, mật độ trồng đến chăm sóc. Mật độ trồng được khuyến cáo là 30 cây/ô thí nghiệm. Quy trình kỹ thuật được áp dụng nhằm tối ưu hóa điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương.

4.1. Làm đất và lên luống

Làm đất và lên luống là bước đầu tiên trong kỹ thuật trồng đậu tương. Đất được cày bừa kỹ, lên luống cao 20-30 cm để đảm bảo thoát nước tốt. Điều này giúp cây phát triển bộ rễ mạnh và hạn chế ngập úng.

4.2. Chăm sóc đậu tương

Chăm sóc đậu tương bao gồm tưới nước, bón phân và phòng trừ sâu bệnh. Việc bón phân cân đối NPK giúp cây phát triển đồng đều và tăng năng suất. Phòng trừ sâu bệnh kịp thời giúp giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo năng suất cuối cùng.

V. Đánh giá cây đậu tương

Đánh giá cây đậu tương được thực hiện qua các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng, phát triển và năng suất. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về đặc điểm và khả năng thích nghi của các giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân đậu tương tại Gia Lâm, Hà Nội.

5.1. Đặc điểm hình thái

Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương bao gồm chiều cao cây, số lá, số đốt và cành cấp 1. Các giống có đặc điểm hình thái đa dạng, phản ánh khả năng thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng trồng đậu tương.

5.2. Khả năng chống chịu sâu bệnh

Khả năng chống chịu sâu bệnh là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá cây đậu tương. Các giống có khả năng chống chịu tốt thường cho năng suất cao và ổn định. Điều này giúp giảm thiểu chi phí phòng trừ sâu bệnh và tăng hiệu quả kinh tế.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất tập đoàn đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại gia lâm hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á, một loài đã có từ lâu đời được xem là loại “cây kỳ lạ”,”vàng mọc từ đất”, “cây đỗ thần”,”cây thay thịt”… Sở dĩ cây đậu tương được người ta đánh giá cao như vậy chỉ yếu do giá trị kinh tế của nó. Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara. đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc. Ngoài ra, trong cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác.

Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng 38- 40% cao hơn cả ở cá, thịt và cao gấp hai lần hàm lượng protein trong các loại họ đỗ khác, lipit từ 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng. Đậu tương là loại hạt duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protit và lipit. Hàm lượng của các axit amin có chứa lưu huỳnh như methionin, sistein, sixtin… của đỗ tương rất gần với hàm lượng của các chất này của trứng.

Vì thế mà khi nói gía trị của protein ở đậu tương cao là nói hàm lườn lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của các loại axit amin cần thiết. Ngày nay người ta mới biết thêm nó có chứa chất lexithin có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, làm tăng thêm trí nhớ và tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lên cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm ngon, dùng dầu đậu tương thay mỡ đậu vật có thể tránh được xơ mỡ động mạch.

Trong hạt đậu tương còn có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt hàm lượng của vitamin B1 và B2, PP,A,E,K2,D… và các loại muối kháng khác.Đậu tương còn 1 là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim gan, thận, dạ dày, và ruột, làm thức ăn tốt cho bệnh dái tháo đường, thấp khớp,thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng. Các chất lexithin và cazein có trong hạt đậu tương còn có thẻ dùng riêng hoặc phối hợp để làm thuốc bổ dưỡng. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á. Ở nước ta đậu tuong được gieo trồng trên cả 7 vùng sinh thái, miền Bắc được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc, Lào Cai… và Đồng Bằng Sông Hồng.

Việt Nam có điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt. Vì vậy các nhà chọn tạo giống đã và đang nghiên cứu tạo ra những giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng và khả năng thích nghi với các điều điện bất lợi và chống chịu các loại sâu bệnh hại. Mặc dù tiềm năng còn khá nhiều nhưng việc mở rộng diện tích còn bị nhiều hạn chế như thời vụ, gía cả, thị trường … nên cần nhiều biện pháp để hạn chế, cần nhanh chóng nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới nông nghiệp để chọn tạp ra các giống chất lượng. Trong đó quá trình chọn tạo giống đậu tương, khảo sát là một trong các bước quan trọng nhằm đề ra một số dòng giống có triển vọng để đưa vào so sánh giống.

Góp phần để giải quyết vấn đề đó chúng tôi dã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất tập đoàn đậu tương trong điều kiện vụ Xuân tại Gia Lâm, Hà Nội” 1. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá được các chỉ tiêu, hình thái, đặc điểm sinh trưởng, khả năng chống chịu và năng suất giữa các giống đậu tương. Từ đó đề xuất xác định một số dòng, giống có triển vọng cho công tác chọn tạo giống tiếp theo.

Yêu cầu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, đặc điểm hình thái của tập đoàn đậu tương trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội. - Theo dõi tốc độ sinh trưởng và phát triển của từng giống đậu tương tại Gia Lâm – Hà Nội - Theo dõi khả năng chống chịu và tỉ lệ nhiễm sâu bệnh hại của từng giống đậu tương trong vụ Xuân 2021 - Xác định yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và phân loại 2.

Nguồn gốc Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Một trong những loại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gốc của cây đậu tương cũng sớm được xác minh. Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu tương có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Loài đậu tương hoang (Glycine ussuriensis/ Glycine soja) là tổ tiên hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhật bản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền Đông Bắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga.

Chủng hoang dại này tương tự nhưng không phải là đậu tương được trồng hiện nay và chúng có thể lai tạo được với nhau vì đồng nhất về mặt di truyền và thường được sử dụng trong chương trình lai tạo giống để kết nạp một số đặc tính quý đặc biệt được mong đợi trong những giống đậu tương mới được tạo ra. Loài đậu tương (Glycine max) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Á, Ấn Độ…Ghi chép đầu tiên về đậu tương được tìm thấy trong quyển bách khoa toàn thư Trung Quốc bao gồm các loại cây trồng được hoàng đế Cheng – Nung mô tả vào năm 2838 trước công nguyên. Nguồn gốc chính xác và lịch sử trước đó thì không được biết. Về sau đậu tương được đề cập lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ghi chép như là một cây trồng họ đậu quan trọng nhất trên khắp châu Á và đặc biệt là ở Trung Quốc.

Người Trung Quốc gọi một nhóm gồm năm loại hạt cốc thiêng liêng với cái tên là “Wu Ku”. Đậu tương được trồng đầu tiên ở nửa phần phía đông của miền bắc Trung Quốc vào thế kỷ 11 trước công nguyên. Phương thức trồng đậu nành được du 4 nhập vào Triều Tiên từ miền bắc Trung Quốc và vào Nhật Bản vào khoảng từ năm 200 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên. Ngay cả đến ngày nay đậu tương cung cấp một nguồn protein rất quan trọng trong khẩu phần của nhiều quốc gia ở châu Á và là một thực phẩm và sản phẩm công nghiệp cực kỳ có giá trị trên khắp châu Á.

Châu Âu mới biết đến đậu nành từ thế kỷ 18 và trong thế kỷ thứ 19 đậu nành phát triển mạnh ở Châu Mỹ. Quê hương của đậu tương ở Đông Á, nhưng 45% diện tích trồng đậu tương và 55% sản lượng đậu tương của thế giới nằm ở Mỹ. Nước Mỹ sản xuất 84 triệu tấn đậu tương trong năm 2011, trong đó hơn một phần ba được xuất khẩu. Phần lớn sản lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụ đậu tương ở người trên đất nước này đang tăng lên.

Dầu đậu nành chiếm tới 80% lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ. Các nước sản xuất đậu tương lớn là Brasil, Argentina, Trung Quốc và Ấn Độ. Đậu tương là một trong số các cây lương thực đã có nhiều giống được cải biến di truyền hay biến đổi gen (GMO) nhằm tăng năng suất. Hiện nay, khoảng 80% lượng đậu tương được trồng phục vụ thương mại đều là GMO.

Công ty Monsanto là công ty hàng đầu thế giới hiện nay trong sản xuất cây chuyển gen nói chung và đậu tương chuyển gen nói riêng Ở Việt Nam: Một số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây đậu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Phân loại Đậu tương thuộc chi Glycine, họ đậu Leguminosae, họ phụ cánh bướm Papilionoideae và bộ Phaseoleae. Đậu tương có tên khoa học là Glycine max (L. Chi Glycine từng được Carl Linnaeus đưa ra năm 1737 trong ấn bản đầu tiên của quyển Genera Plantarum.Từ glycine có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - glykys (ngọt) và có thể đề cập đến chất ngọt của củ ăn được sản xuất ở Bắc Mỹ có dạng cây đậu thân leo, Glycine apios, nay là Apios americana.

Đậu tương 5 được trồng được xuất hiện đầu tiên trong quyển Species Plantarum của Linnaeus, với tên gọi Phaseolus max L. Việc kết hợp Glycine max (L., theo đề nghị của Merrill năm 1917, đã trở thành tên gọi chính thức được công nhận của loài này. Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng. Theo hệ thống này ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja.

Chi Glycine được chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2 loài: loài đậu tương trồng Glycine max (L.) và loài hoang dại hàng năm G. Soja Sieb và Zucc.1 Phân loại cây đậu tương Loài NST (2n) Đặc tính hình thái Phân bố Chi Glycine Glycine 40 3 lá kép nhỏ hình ô van dài. gân hình Úc clandestina mạng. hoa có màu sắc từ hổng đến tím wendl hồng.

Quả ngắn hình thuôn thẳng hoặc cong, ít hạt màu nâu sáng hoặc đen. Thân mảnh leo nhiều lông nhỏ. Glycine 40 Thân có thể bò sát mặt đất hoặc thẳng, Úc falcata lông cứng. Chùm hoa dài mập với màu sắc Benth từ trắng đến màu hoa cà nhạt.

Quả cong rộng bản có nhiều lông cứng. Hạt hình thuôn hoặc ô van. Glycine 40 Thân khoẻ bò sát hoặc đôi khi leo. Phiến lá Úc latifolia rộng có răng cưa chùm hoa dải, mảnh màu (Benth).

Quả ngắn, nhiều lông tơ hoặc cứng Newell và Hymowitz Glycine 40 Là loại thân nhỏ cứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Sinh Trưởng, Phát Triển Và Năng Suất Đậu Tương Vụ Xuân Tại Gia Lâm, Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả canh tác đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại khu vực Gia Lâm, Hà Nội. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đậu tương, từ đó giúp nông dân và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện để tối ưu hóa quy trình canh tác. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về kỹ thuật trồng trọt, quản lý dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao năng suất cây trồng.

Để mở rộng kiến thức về các loại cây trồng khác trong cùng điều kiện canh tác, bạn có thể tham khảo Luận văn đánh giá khả năng sinh trưởng của một số giống và ảnh hưởng một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất đậu côve tại tỉnh bắc giang, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn tương tự về đậu côve. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng liều lượng phân bón n p k đến sinh trưởng và dược tính cây đương quy tại xã giai phạm tỉnh hưng yên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của phân bón và mật độ trồng đến cây trồng. Cuối cùng, Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón phân đến cây bìm bìm trong vụ xuân năm 2021 tại gia lâm hà nội khóa luận tốt nghiệp là tài liệu lý tưởng để so sánh các phương pháp bón phân trong cùng khu vực.