Đặt vấn đề Hiện nay, con người dần có xu hướng “trở về với thiên nhiên” đặc biệt là ở các nước phát triển. Cùng với xu hướng đó nhu cầu về nguồn dược liệu ngày một tăng cao đáp ứng nhu cầu sản xuất các loại thuốc có chiết xuất từ thảo dược. Các loại thuốc này thường ít gây ra tác dụng phụ đối với cơ thể con người nên rất được ưa chuộng. Tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60 đến 80 nghìn tấn/năm được sử sử dụng làm thuốc, thực phẩm chức năng hay các sản phẩm bảo vệ sức khỏe.
Việc sử dụng hạt bìm bìm trong việc sản xuất thuốc giải độc và bảo vệ gan mật hiện đang được công ty cổ phần Traphaco tập trung phát triển và đang là sản phẩm độc quyền của công ty. Trên thực tế hạt bìm bìm chủ yếu được khai thác từ tự nhiên hoặc nhập từ Trung Quốc dẫn đến chất lượng dược liệu không đồng đều, không ổn định, khó kiểm soát. Nghiên cứu đưa cây bìm bìm vào trồng trọt là một trong những giải pháp có tính bền vững, đem lại hiệu quả cao trong việc trồng và phát triển nguồn dược liệu chất lượng, góp phần chủ động nguồn nguyên liệu và nâng cao chất lượng dược liệu. Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Bên cạnh việc bón phân đầy đủ, cân đối thì bổ sung dinh dưỡng vào đúng thời điểm cây cũng là yếu tố quan trọng. Ngoài việc cung cấp các nguyên tố thiết yếu như đạm, lân, kali thì việc bổ sung thêm các loại dinh dưỡng vi lượng là yếu tố cần thiết thức đẩy quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng, đồng hóa các chất dinh dưỡng để nuôi cây và mang lại hiệu quả trong việc sử dụng phân bón. Tuy nhiên, trên cây dược liệu nói chung hiện vẫn chủ yếu được quan tâm nghiên cứu về thành phần hoạt chất và tác dụng dược lý của cây, rất ít các nghiên cứu về quy trình trồng, chăm sóc. 1 Do đó, để góp phần hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc, bón phân cho cây bìm bìm giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân cũng như làm tăng chất lượng dược liệu nên dưới sự hướng dẫn của ThS.
Nguyễn Thị Thanh Hải, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón phân đến cây Bìm bìm trong vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón phân đến cây bìm bìm trong vụ xuân, từ đó xác định lượng phân và thời đểm bón thích hợp, góp phần làm hoàn thiện quy trình canh tác cho cây bìm bìm. Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng và phát triển của cây bìm bìm.
Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại. Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cây bìm bìm. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung 2.
Nguồn gốc và đặc điểm phân bố của cây Bìm bìm Cây bìm bìm có tên khoa học là Pharbitis nil (L.) Choisy thuộc họ khoai lang- convolvulaceae), có tên khác: khiên ngưu, hắc sửu, bạch sửu, bìm bìm lam (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Cây bìm bìm được phân bố rải rác ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Philipin và một số nước khác ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, bìm bìm biếc thường mọc ở vùng núi thấp, trung du và đồng bằng (Đỗ Huy Bích và cs. Ở Việt Nam, những loại dây leo có tên là bìm bìm gồm nhiều loài thuộc chi Calonyclion, Merremia, Pharbitis và Poramia (họ Convolvulaceae).
Chi Pharbitis Choisy có 2 loài, trong đó loài bìm bìm biếc (Pharbitis nil (L.) Choisy) được sử dụng làm thuốc. Loài này có nguồn gốc Nam Mỹ, tuy nhiên không rõ được nhập vào nước ta từ khi nào. Hiện nay, bìm bìm biếc mọc hoang dại ở các bờ rào vườn, ven đường đi ở Tam Đảo, thị xã Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên và một số nơi khác (Đỗ Huy Bích và cs. Đặc điểm thực vật học Bìm bìm biếc là cây dây leo bằng thân quấn.
Thân, cành mảnh, có lông rải rác, lá mọc so le, có cuống dài, chia 3 thùy, gốc hình tim, đầu nhọn, dài 14 cm, rộng 12 cm, mặt trên nhẵn, màu lục, mặt dưới nhạt, có lông ở gân; gân gốc 5 - 7 cm; cuống dài 5 - 9 cm, mùa hoa quả: tháng 9-1 (Đỗ Huy Bích và cs. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, thành xim 1 - 3 hoa to màu hồng tím hoặc lam nhạt; cuống hoa ngắn, có lông và mang hai lá bắc mọc đối; đài hình chuông, có 5 răng đều, hẹp nhọn, mặt ngoài có lông; tràng hình phễu có ống dài khoảng 5 3 cm, 5 cánh hoa hàn liền; nhị 5 không đều, chỉ nhị phồng và có lông ở gốc, bao phấn hình mũi tên; bầu 3 ô, mỗi ô đựng hai noãn (Đỗ Huy Bích và cs. Quả nang, hình cầu nhẵn, đường kính 8 mm, bao bọc trong đài đồng trưởng; hạt 2 - 4 có 3 cạnh, màu đen, mặt ngoài có lông mềm. Hạt dài 4 – 7 mm, rộng 3 – 4,5 mm, gần giống một phần năm khối cầu, mặt lưng lồi hình cung, có một rãnh nông ở giữa, mặt ngoài hơi lồi lõm, màu nâu đen (hắc sửu) hoặc nâu nhạt (bạch sửu).
Mặt bụng hẹp, gần như một đường thẳng tạo thành do hai mặt bên. Rốn hạt nằm ở cuối mặt bụng và lõm xuống. Vỏ hạt cứng, mặt cắt ngang màu lá mạ đến nâu nhạt, ngâm hạt vào nước vỏ hạt sẽ nứt và tách ra (Đỗ Huy Bích và cs. Thành phần hóa học của cây Bìm bìm biếc Theo Đỗ Huy Bích và cs., (2004) thành phần hoá học của hạt bìm bìm biếc gồm có: 2% pharbitin, 11% chất béo, acid nilic, lysergol, Acid pharbitis bao gồm các acid pharbitis A, B, C, D trong đó có 2 acid pharbitis C và D là chủ yếu.
Acid pharbitis C bao gồm các acid ipurolic (acid 3,11 - dihydrotetradecanoic) liên kết với 2 phân tử d - glucose, 2 phân tử 1- 4 rhamnose, 1 phân tử d - quinovose. Acid pharbitis D có cấu tạo giống như acid pharbitis nhưng có thêm 1 phân tử rhamnose. Hoa Bìm bìm chứa peonidin - 3 - sophorosid - 5 - glycosid, peonidin - 3 -[6” (4 - glucosyl - trans - cafeyl) sophorosid] - 5 - glucosid (Đỗ Huy Bích và cs. Theo Đỗ Tất Lợi (2004), Trong khiên ngưu có chừng 2% chất glucozit gọi là phacbitin có tác dụng tẩy, ngoài ra còn chừng 11% chất béo và 2 sắc tố cũng là glucozit.
Phacbitin được cấu tạo bởi các chất sau đây: Axit phacbitic C28H68O23 (bản thân cũng là một glucozit), axit tiglic, metyl etylaxetic, và axit nilic. Axit phacbitic cấu tạo bởi axit ipurolic glucoza và ramnoza. Pharbitin có thể được biểu thị một cách giản đơn như sau: Khi thuỷ phân acid pharbitin bằng kiềm hay acid sẽ thu được các chất sau: 5 Acid pharbitis C (Đặng Thị Thanh Hương, 2013). Hạt chưa chín của bìm bìm biếc chứa giberelin A3, giberelin A5, giberelin A20, giberelin A26, giberelin A27, giberelin glucosid.
Yêu cầu sinh thái Cây bìm bìm biếc ưa ẩm, ưa sáng, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm.Trong một năm, thân và cành có thể vươn dài đến 10m. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe từ các chồi ở kẽ lá. Mùa hoa quả kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6. Cây ra hoa quả nhiều hằng năm.
Số cây con mọc từ hạt xung quanh cây mẹ cũng thấy nhiều. Khi cây bị chặt phá nhiều trong năm, phần còn lại vẫn có khả năng tái sinh được (Đỗ Huy Bích và cs. Giá trị và công dụng của bìm bìm biếc 2. Tính vị và công năng Hạt bìm bìm có vị đắng, tính hàn, hơi có độc, vào các kinh phế, thận, đại tràng, có tác dụng tả thuỷ (tiêu thoạt nước), tiêu thũng, lợi tiểu, diệt trùng, công tích trễ và trục đờm (Đỗ Huy Bích và cs.
Công dụng của cây Bìm bìm biếc Theo Đỗ Tất Lợi (1999), bộ phận dùng làm thuốc của cây Bìm bìm biếc chủ yếu là hạt. Ngoài hạt khiên ngưu kể trên, người ta còn dùng hạt cây mạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8 khiên ngưu Impomea purpurea (L). Lá cây nguyên không xẻ. Có người dùng cả lá cây bìm bìm sắc uống cũng thấy có tác dụng lợi tiểu.
Theo Đỗ Tất Lợi và Võ Văn Chi (2011) hạt bìm bìm có tác dụng điều trị: viêm thận phù thũng, xơ gan cổ trướng; táo bón; giun đũa, sán xơ mít và hen suyễn có đờm. Theo Đỗ Huy Bích và cs, Võ Văn Chi (2011) hạt bìm bìm biếc có vị đắng, tính hàn, hơi có độc, vào các kinh phế, thận, đại tràng, có tác dụng tả thuỷ (tiêu thoát nước), tiêu thũng, lợi tiểu, diệt trùng, công tích trễ, trục đờm. Chất Pharbitin chiết từ hạt có tác dụng kích thích co bóp của ruột thỏ cô lập và tử cung cô lập chuột cống trắng. Với liều 1,0 mg/kg Pharbitin bằng đường tiêm tĩnh mạch (i/v) trên chó và thỏ gây mê không có ảnh hưởng đáng kể đối với huyết áp và hô hấp.
Hạt bìm bìm biếc còn có tác dụng lợi tiểu, diệt ký sinh trùng đường ruột như giun đũa, và có tác dụng gây sẩy thai. Hạt bìm bìm có tác dụng gây tẩy do hoạt chất muricatin A. Các thành phần khác tham gia vào tác dụng này, nhưng không phải là thành phần dầu béo, vì dầu từ hạt bìm bìm không có tác dụng gây tẩy. Chất muricatin A thí nghiệm trên chuột cống trắng dùng với liều 0,5g/kg có tác dụng gây tẩy rõ rệt.
Còn thí nghiệm trên chó, muricatin A tiêm tĩnh mạch có tác dụng gây mê dùng với liều thấp (5 – 10g/kg) đối với huyết áp, hô hấp và hoạt động của ruột, thuốc không ảnh hưởng rõ rệt, còn khi dùng với liều lượng 20 – 40g/kg thì huyết áp tạm thời 8 hạ, cơ trơn của chuột bị giãn. Chất muricatin B không có hoạt tính dược lý. Còn có tài liệu chứng minh bìm bìm có tác dụng kháng khuẩn. Dạng nước chiết hoặc chiết cồn hoặc hạt bìm bìm biếc thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường uống với liều 1,5 mg/kg có tác dụng tẩy xổ.
Chất Pharbitin chiết từ hạt có tác dụng kích thích co bóp của ruột thỏ cô lập và tử cung cô lập chuột cống trắng. Với liều 1,0 mg/kg pharitin bằng đường tiêm tĩnh mạch (i/v) trên chó và thỏ gây mê không có ảnh hưởng đáng kể đối với huyết áp và hô hấp.