Đặt vấn đề Đương quy còn được gọi là tần quy, can quy, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Tại một số nước khác, Đương quy có tên gọi là dang gui (Trung Quốc), toki (Nhật Bản), tanggwi (Hàn Quốc). Có hai loài Đương quy được trồng ở Việt Nam: Loài Đương quy trung quốc (Angelica sinensis (Oliv.) Diels) được nhập từ Trung Quốc, là loài có giá trị làm dược liệu. Loài Đương quy nhật bản (Angelica acutiloba (Siebold & Zucc.) được nhập từ Nhật Bản, Triều Tiên, có kích thước củ thường lớn hơn loại đương quy nhập từ Trung Quốc, cũng được dùng làm dược liệu.
Trong khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu đối tượng là loài Đương quy nhật bản. Đương quy đã được trồng tại một số địa phương thành công như ở tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Lai Châu, Lào Cai. Ước tính hàng năm thu hoạch cho hiệu quả kinh tế cao vài trăm triệu đồng/ha. Đương quy có tác dụng bổ huyết hoạt huyết, nhuận táo hoạt trường, điều huyết thông kinh.
Chủ trị chứng tâm can huyết hư, kinh nguyệt không đều, đau kinh, tắt kinh, các bệnh thai tiền sản hậu, tổn thương do té ngã, đau tê chân tay (tý thống ma mộc), nhọt lở loét (ung thư sang thương), chứng huyết hư trường táo kiêm trị khái suyễn. Trong bối cảnh hiện nay, các nghiên cứu liên quan đến thành phần, hoạt tính dược liệu được sử dụng để sản xuất ra dược phẩm ở Việt Nam khá sôi động. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến điều kiện trồng trọt chăm sóc cây thuốc còn rất hạn chế. Cây trồng dưới sự tác động của nhiều yếu tố mà dẫn đến năng suất, chất lượng như giống cây trồng, phân bón, lượng nước tưới, chế độ chăm sóc, thổ nhưỡng…Và cây dược liệu cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố này, đặc biệt giống cây, thổ nhưỡng, phân bón, nước tưới… là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng cũng như năng suất cây 10 dược liệu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, các liều lượng phân bón khác nhau lên sinh trưởng và dược tính có ý nghĩa góp phần tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc chọn lựa điều kiện trồng trọt chăm bón phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thành phần dược tính cây dược liệu, góp phần phát triển cây dược liệu có hiệu quả chất lượng cao…… Vì vậy, từ thực tế và những điều tìm hiểu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón đến sinh trưởng và dược tính cây Đương quy tại xã Giai Phạm, tỉnh Hưng Yên” 1.2 Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón đến sinh trưởng, năng suất và dược tính cây Đương quy tại xã Giai Phạm, tỉnh Hưng Yên từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình sản xuất Đương quy cho năng suất cao, thành phần dược chất của củ có giá trị cao.3 Yêu cầu -Xác định một số tính chất lý, hóa, sinh của đất và nước tưới dùng tại khu vực ruộng trồng Đương quy. -Ảnh hưởng của phân bón N,P,K và mật độ trồng lên sinh trưởng của cây Đương quy. - Ảnh hưởng của bón N,P,K và mật độ trồng lên năng suất của củ Đương quy. - Ảnh hưởng của bón N,P,K và mật độ trồng lên dược tính của củ Đương quy.
- Ảnh hưởng hưởng của bón N,P,K và mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế cây dược liệu Đương quy. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây dược liệu Đương quy và các yếu tố tác động đến sự phát triển của cây 2.1 Phân loại và đặc điểm thực vật học - Cây Đương quy thuộc họ Hoa tán (Apiaceae), Chi: Angelica. Chi này gồm khoảng 70 loài, trong đó loài Đương quy nhật bản được trồng phổ biến ở Việt Nam hiện nay Đặc điểm thực vật học của cây Đương quy nhật bản (Angelica acutiloba (Siebold & Zucc.) Rễ: Gổm rễ chính và nhiều rễ nhánh.
Rễ chính ngắn và mập, dài 10 – 20 cm, đường kính rễ chính sau khi làm khô đạt 2 cm trở lên, có nhiều rễ nhánh dài 15 – 20 cm, đường kính 0,2 cm trở lên. Mặt ngoài của rễ có màu nâu tối, có nhiều nếp nhăn dọc, nhiều sẹo lồi nằm ngang là vết sẹo của rễ con rụng đi để lại. Mặt cắt ngang màu trắng ngà có vân tròn và nhiều điểm tinh dầu. Rễ có thơm hơi hắc, vị ngọt nhẹ, sau hơi cay nóng.
Vi phẫu mặt cắt rễ ngang hình tròn, từ ngoài vào trong bao giồm: Lớp bần gồm nhiều hàng tế bào hình chữ nhật thành dày xếp thành vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Mô mềm vỏ gồm những tế bào thành mỏng, lớp phía ngoài thường bị ép bẹp, méo mó, rải rác có các khuyết tế bào hình dạng khác nhau. Có ống tiết tinh dầu nằm rải rác trong mô mềm vỏ và libe. Libe–gỗ bị phân cách bởi các tia ruột tạo thành các bó dài riêng biệt.
Tầng sinh libe–gỗ tạo thành vòng liên tục. Tia ruột gồm 2 – 3 hàng tế bào xếp theo hướng xuyên tâm. Thân: Là loại cây nhỏ, thân thảo, cây sống lâu năm. Cây cao 40 - 80cm, khi ra hoa cây cao độ 1m, màu tím, có rãnh dọc.
Lá: Lá mọc so le, ở phía dưới có cuống dài 10-30cm, gốc có bẹ ngắn hình máng, xẻ lông chim 1-2 lần, lá chét phân thùy hình mác dài 2-7 cm, rộng 1-3 12 cm, có cuống ngắn hoặc không có cuống, các thùy phân nhỏ, gốc hình nêm, đầu nhọn, mép có răng to sắc, lá ở phía ngọn tiêu giảm. Cuống lá phát triển thành bẹ bọc lấy thân cây. Hoa: Cụm hoa là tán kép, có cuống dài 5-20 cm gồm 25-40 tán, tổng bao và tiểu bao giống nhau có lá bắc dạng sợi, hoa nhỏ màu trắng lục nhạt, đài không có răng, tràng 5 cánh lõm ở đầu, nhị 5, bầu hình chóp ngược, có gân lồi. 1 Hoa đương quy Quả: Quả bế đôi, hơi dẹp, có cạnh và gân lồi, gân ở mép rộng dạng cánh.
Mùa hoa vào tháng 3,4. Mùa ra quả vào thời gian tháng 6, 7. 2 Cây Đương quy 2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển - Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Chia làm 2 giai đoạn: • Giai đoạn cây con - Giai đoạn nảy mầm khoảng tầm 20 ngày, yêu cầu nhiệt độ từ 20 - 25 độ, tỷ lệ nảy mầm cao trên 80%. - Thời kỳ cây con sinh trưởng chậm, lá mọc 3 - 4 lá mới xẻ thùy.
Đây là thời điểm thích hợp để tỉa cây theo mật độ mong muốn. Giai đoạn cây con dài từ 2 - 3 tháng - Giai đoạn này cây con yếu, sinh trưởng chậm. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho cây con sinh trưởng, phát triển tốt. - Thời gian từ gieo hạt đến thu được dược liệu là 1 năm ở miền núi và 7 - 9 tháng ở vùng đồng bằng.
• Giai đoạn thân lá và rễ phát triển mạnh. 14 Thời kỳ này kéo dài từ 4-5 tháng (đối với cây con sinh trưởng ở vùng đồng bằng) đến 6 - 7 tháng (đối với cây con sinh trưởng ở vùng núi) sau đó cây phát triển chậm lại, lá chuyển vàng thì có thể thu hoạch được Giai đoạn sinh trưởng sinh thực: - Cây sinh trưởng là 1 năm ở miền núi và 7 - 9 tháng ở vùng đồng bằng. - Vào tháng 6 - 7 dương lịch cây bắt đầu lên ngồng và ra hoa. - Biểu hiện cây ra ngồng: Lúc này bộ lá xung quanh cổ rễ ngừng phát triển mà hình thành những lá nhỏ trên thân.
Rễ củ không tăng lên về khối lượng, kích thước mà lại tiêu hao dinh dưỡng để nuôi hoa, quả, làm cho rễ củ bị hóa xơ, cứng và rỗng, không sử dụng làm dược liệu được. - Quá trình này thường kéo dài 3 - 4 tháng cuối vòng đời của cây.3 Yêu cầu sinh thái Yêu cầu nhiệt độ: Phát triển tốt ở điều kiện khí hậu mát mẻ. Nhiệt độ thích hợp 18 – 30oC, nhiệt độ tối thiểu là – 7oC, tối đa cây có thể sống là lớn hơn 40oC. Yêu cầu ánh sáng: Cây còn non yêu cầu ít ánh sáng, giai đoạn trồng ra ruộng sản xuất nên trồng nơi nơi khuất gió, đủ ánh sáng để tạo điều kiện cây phát triển tốt nhất.
Yêu cầu độ ẩm: Giai đoạn cây con phát triển thích hợp ở độ ẩm 70 - 75%, giai đoạn cây phát triển thân lá yêu cầu 75 - 80%, giai đoạn cây già 65 - 70% độ ẩm, giảm hơn nhiều so với các giai đoạn khác. Yêu cầu đất đai: Cây ưa sinh sống, phát triển ở nơi đất mới khai hoang, tầng đất dày, nhiều mùn, giàu sinh dưỡng, tơi xốp, độ pH 5,5 - 6,5. Cây trồng 15 phục vụ khai thác sản xuất yêu cầu nguồn tưới nước phải đạt tiêu chuẩn, tiện lợi, đất trồng phải thoát nước tốt, thích hợp trồng trên đất cát pha.4 Phân bố sinh thái Chi Angelica L. có khoảng 70 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu và New Zealand.
Việt Nam đã 3 lần nhập giống Đương quy của Trung Quốc (khoảng giữa năm 60), Triều Tiên (1978) và gần đây là của Nhật Bản (1990). Cho đến nay chưa tìm thấy Đương quy mọc tự nhiên trong hệ thực vật Việt Nam. Ở nước trước đây đã áp dụng nhiều lần trồng thí điểm cây Đương quy nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai. Nhưng mới gần đây nước ta đã trồng thử nghiệm trên nhiều vùng địa phương có khí hậu lạnh và đã thành công như các vùng núi cao tại Tây Bắc bao gồm Lào Cai, Lai Châu, Hòa Bình, Sơn La.
Bên cạnh đó còn một số nơi tại Tây Nguyên như Lâm Đồng, Đăk Lăk… Với sự phát triển này có tác dụng to lớn trong việc phát triển ngành y dược tại Việt Nam. Theo Nguyễn Chiều và Lê Kim Loan (1999) hai giống Đương quy nhật bản và triều tiên đều thuộc 1 loài A. Nhìn chung các giống Đương quy đều có nguồn gốc từ vùng ôn đới. Cây được đưa vào trồng ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản từ lâu đời.
Cây ưa khí hậu ẩm mát, đến mùa đông toàn bộ phần trên mặt đất đều tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chịu đựng được băng tuyết và mọc lại vào mùa xuân năm sau. Đương quy trồng ở Việt Nam thường cũng phải lựa chọn thời vụ trồng sao cho mùa gieo hạt và sinh trưởng của cây trùng với thời gian có nhiệt độ thấp trong năm. Cây trồng ở vùng đồng bằng ra hoa quả sớm hơn ở vùng núi cao (trên 1500m), những hạt giống này không dùng để sản xuất dược liệu được. Tại Việt Nam, hiện nay hạt giống Đương quy chỉ có thể được sản xuất ở Sa Pa – Lào Cai (Phạm Văn Ý 2001).