Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Chƣơng 2: Xây dựng phƣơng pháp luận đánh giá mức độ rủi ro do lũ Chƣơng 3: Đánh giá mức độ rủi ro do lũ cho tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp Kết luận - Kiến nghị 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1. Vị trí địa lý An Giang là một tỉnh biên giới Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích tự nhiên là 353.675,89 ha chiếm 1,07% diện tích đất của cả nƣớc, xếp thứ 4 ở khu vực ĐBSCL. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn.
Đơn vị hành chính cấp xã, phƣờng, thị trấn có 155 đơn vị gồm 118 xã, 21 phƣờng và 16 thị trấn. Tỉnh An Giang có vị trí địa lý: Từ 10010’30’’ đến 10037’50’’ vĩ độ Bắc; Từ 104047’20’’ đến 105035’10’’ kinh độ Đông. Đƣợc giới hạn bởi: Phía Tây Bắc giáp Vƣơng quốc Campuchia; Phía Đông và Đông Bắc giáp ỉnh Đồng Tháp; Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang; Phía Nam và Đông Nam giáp Tp.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều kiện địa hình An Giang là tỉnh đầu nguồn vùng ĐBSCL, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, địa hình đƣợc chia làm 2 dạng đặc trƣng: Địa hình đồng bằng: Có cao độ thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ chênh cao 0,5cm/km - 1cm/km.
Cao trình của toàn đồng bằng biến thiên từ 0,8m đến 3m và đƣợc chia thành 2 vùng: + Vùng cù lao gồm thị xã Tân Châu và 3 huyện: An Phú, Phú Tân và Chợ Mới có cao trình biến thiên từ 1,3m - 3m và thấp dần từ ven sông vào nội đồng. Dọc theo ven đê về phía đồng thƣờng có khu trũng cục bộ. + Vùng hữu ngạn sông Hậu thuộc TGLX gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn có cao trình biến thiên từ 0,8m - 3m và thấp dần về phía Tây. Địa hình đồi núi: Tập trung và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với nhiều núi có độ cao từ 300m - 700m, cao nhất là núi Cấm 710m.
Có ba khu vực núi tập trung là núi Cấm, núi Dài và núi Tô. Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có cao trình từ 4m - 40m và độ dốc từ 300 – 800. Các dãy núi lớn ở phía Bắc của tỉnh nhƣ núi Cấm, núi Cô Tô. có bề mặt đỉnh tƣơng đối bằng phẳng (tạo khu du lịch núi Cấm), sƣờn núi dốc 300 – 400, có chỗ đến 500 – 600 tạo nên địa hình rất phức tạp và gây khó khăn cho đi lại.
Tuy nhiên, hiện nay sƣờn núi đã đƣợc cải tạo thành đƣờng đi cho du khách tham quan các khu du lịch trên đỉnh núi Cấm. Đặc điểm khí hậu * Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình nhiều năm (giai đoạn 2005 – 2009) là 27,50C. Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng V) và tháng lạnh nhất (tháng I) là 9,50C. Thời kỳ lạnh nhất là các tháng XII, tháng I và tháng II có nhiệt độ vào khoảng 25,40C – 27,30C.
Tháng có nhiệt độ trung bình 5 năm thấp nhất là tháng I, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệt độ trung bình tháng này là 260C. Thời kỳ nóng nhất là các tháng V, tháng VI. Tháng có nhiệt độ trung bình 5 năm cao nhất là tháng V, nhiệt độ trung bình là 28,50C. * Độ ẩm Độ ẩm không khí thay đổi theo mùa và phân chia thành hai mùa khô - ẩm khá rõ rệt.
Với mùa nắng có độ ẩm bình quân tháng dao động trong khoảng 77% - 79,5% và mùa mƣa có độ ẩm bình quân tháng dao động trong khoảng 79,75% - 84,25%. Thời kỳ khô trùng với mùa ít mƣa, từ tháng XII đến tháng IV năm sau, độ ẩm trung bình giảm xuống khoảng 78%, tháng khô nhất thƣờng là tháng IV và tháng XII. Thời kỳ ẩm trùng với mùa mƣa, từ tháng V đến tháng XI, độ ẩm trung bình thƣờng vƣợt 83%. Tháng ẩm nhất thƣờng là tháng VI và tháng VII.
* Mƣa Mƣa ở khu vực tỉnh An Giang nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của áp thấp nhiệt đới và gió mùa Tây Nam từ vịnh Beigan mang nhiều hơi nƣớc thổi vào. Do mặt đất bị đốt nóng mà tạo các dòng đối lƣu, buổi chiều mỗi trận mƣa thƣờng chỉ đạt từ 15 - 20mm diện hẹp. Tuy nhiên vẫn có nhiều trận mƣa giông đạt trên 100mm. Một nguyên nhân nữa là do dải hội tụ nhiệt đới di chuyển trên đồng bằng Nam Bộ và gây ra mƣa lớn và dài ngày.
Lƣợng mƣa trung bình nhiều năm ở An Giang vào khoảng 1200 - 1600mm, nơi nhiều mƣa nhất chủ yếu xảy ra ở vùng có địa hình là đồi núi. Hằng năm có khoảng 140 - 180 ngày mƣa. Chế độ mƣa bị phân hoá thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mƣa xảy ra từ tháng V đến tháng XI.
Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng IV năm sau. Lƣợng mƣa hàng năm tập trung hầu hết vào mùa mƣa chiếm 80 - 85% tổng lƣợng mƣa cả năm. Lƣợng mƣa mùa mƣa lớn lại trùng vào mùa nƣớc lũ của sông Mekong dồn về hạ lƣu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống. * Nắng An Giang có số giờ nắng mỗi tháng dao động từ 106,1 – 291,1 giờ, trung bình từ 4 - 10 giờ nắng/ngày.
Thời kỳ ít nắng thƣờng nhằm vào các tháng VI đến 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tháng X, số giờ nắng mỗi tháng dao động từ 106,1 – 195,1 giờ, trung bình mỗi ngày từ 4 - 7 giờ nắng/ngày. Thời kỳ nhiều nắng là các tháng I đến tháng V, số giờ nắng mỗi tháng từ 170,1 giờ trở lên, mỗi ngày có từ 6 - 10 giờ nắng/ngày. * Gió Chế độ gió ở An Giang khá thuần nhất với 2 chế độ gió mùa rõ rệt. Từ tháng V đến tháng X là gió mùa Tây Nam mang hơi nƣ ớc về tạo mƣa; từ tháng XI đến tháng IV năm sau là gió mùa Đông Bắc có đặc điểm lạnh và khô; tốc độ gió trung bình qua các năm khoảng 3m/giây.
Địa bàn An Giang ít chịu ảnh hƣởng trực tiếp của bão, các hiện tƣợng lốc xoáy có xảy ra trong mùa mƣa nhƣng tần suất thấp nên mức độ ảnh hƣởng không lớn. Tóm lại, với nền nhiệt cao khá đều trong năm, giàu nắng và ít bão, điều kiện khí hậu ở An Giang rất thuận lợi cho phát triển SXNN, có thể thâm canh tăng vụ và tăng năng suất cây trồng một cách rộng rãi theo không gian và thời gian. Đặc điểm thủy văn * Chế độ thủy văn Chế độ thuỷ văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ chế độ nƣớc sông Mekong và chịu ảnh hƣởng của 4 yếu tố chính: chế độ thuỷ triều, chế độ dòng chảy, chế độ mƣa nội đồng và đặc điểm về địa hình, hình thái kênh rạch. An Giang là tỉnh nằm trong khu vực ĐBSCL nên có hệ thống sông, rạch tự nhiên và kênh thuỷ lợi chằng chịt với tổng chiều dài hơn 5.500km (mật độ 1,6 km/km2), đủ sức chuyển tải nguồn nƣớc mặt phục vụ sản xuất, sinh hoạt và vận tải thủy.
Hệ thống sông nhánh, kênh, rạch tự nhiên phụ thuộc nguồn nƣớc hoàn toàn vào sông Hậu và Sông Tiền. An Giang là tỉnh địa đầu sông Cửu Long nên hàng năm phải chịu ảnh hƣởng của mùa nƣớc nổi, lƣợng nƣớc đổ về rất lớn gây ngập khoảng 70% diện tích tự nhiên, ngập từ 1m đến 2,5m, thời gian ngập từ 2,5 - 5 tháng. * Mạng lƣới sông ngòi, kênh rạch Tỉnh An Giang có hệ thống sông và kênh rạch rất phát triển. Mạng lƣới giao thông thủy của tỉnh gồm hệ thống sông, rạch tự nhiên và các tuyến kênh cấp 1, cấp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phục vụ cho công tác tƣới tiêu trong nông nghiệp và vận tải.
Trên địa bàn tỉnh có hai tuyến sông Tiền, sông Hậu có điều kiện khá thuận lợi cho giao thông thủy, chiều rộng phổ biến từ 300m – 400m, có độ sâu từ 5m – 15m, hai tuyến sông này đƣợc liên kết với nhau bởi các sông, rạch cắt ngang, tạo nên một mạng liên thông về vận tải thủy khá thuận lợi. Hệ thống sông, rạch tự nhiên có 10 tuyến với chiều dài 233,2km (sông Tiền, sông Hậu, sông Cái Vừng, sông Vàm Nao, sông Châu Đốc, sông Bình Di, Rạch Ông Chƣởng, Xép Năng Gù và Xép Vĩnh Trƣờng, rạch Long Xuyên), Kênh cấp I có 19 tuyến với chiều dài 469,8km, Kênh cấp II có 290 tuyến với chiều dài 1.721,3km, kênh cấp III và kênh mƣơng nội đồng có 1.654 tuyến với chiều dài 3. Đặc điểm kinh tế, xã hội 1. Đặc điểm kinh tế Ƣớc mức tăng trƣởng kinh tế bình quân trong 5 năm (2011 - 2015) đạt 8,63% (giá so sánh 1994), mặc dù không đạt so Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX nhƣng xét về giá trị tuyệt đối thì giai đoạn 2011 - 2015 tăng thêm 8.640 tỷ đồng (giai đoạn 2006 - 2010 chỉ tăng 6.473 tỷ đồng), GDP bình quân đầu ngƣời đến năm 2015 đạt 39,274 triệu đồng (tăng 17,336 triệu đồng so năm 2010; trong khi giai đoạn 2006 - 2010 chỉ tăng 13,134 triệu đồng so năm 2005); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tích cực, nhất là khu vực dịch vụ tăng từ 53,35% năm 2010 lên 60,29 % năm 2015, khu vực nông nghiệp giảm từ 35,53% năm 2010 xuống còn 27,11% năm 2015, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 11,12% năm 2010 lên 12,61% năm 2015.
* Khu vực nông, lâm, ngƣ nghiệp Tốc độ tăng trƣởng bình quân 5 năm đạt 2,64%, trong đó, lĩnh vực nông nghiệp tăng 3,1%, lĩnh vực thủy sản giảm 0,5%, lĩnh vực lâm nghiệp tăng 0,2%, đóng góp vào tăng trƣởng chung của tỉnh là 0,61% trong tổng số 8,63%. Chƣơng trình Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt nhiều kết quả nổi bật, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng giúp kinh tế của tỉnh vƣợt qua khó khăn, hai mặt hàng nông nghiệp chủ lực của tỉnh (lúa gạo, cá tra) đạt giá trị kim 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngạch xuất khẩu cao.