Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Chương 3: Đánh giá quy trình ủy thác vốn từ NHCSXH đến đối tượng chính sách thông qua các TC CT-XH Chương 4: Kết luận và khuyến nghị chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Lý thuyết Thông tin bất cân xứng được chuẩn hóa do 3 nhà kinh tế George Akerlof, Michael Spence, và Joseph Stigliz đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001. Thông tin bất cân xứng là một dạng thất bại của thị trường, xảy ra khi trong giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với (các) bên còn lại; bất cân xứng là tình trạng phổ biến trong cuộc sống của cá nhân và xã hội. Có ba lớp bài toán Thông tin bất cân xứng là: Lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi; Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại; và Vấn đề người ủy quyền- người thừa hành. Lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi: Lựa chọn ngược xảy ra khi trong một thị trường, người bán hoặc người mua biết rõ hơn về tính chất sản phẩm, mà đối tượng kia không biết.
Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại: Rủi ro đạo đức là hiện tượng một người có hành động mà người khác không thể quan sát được có xu hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành vi không tốt. Rủi ro đạo đức xảy ra khi một cá nhân hay một tập thể không chịu toàn bộ trách nhiệm hay hậu quả cho việc làm của mình, và vì vậy có biểu hiện ít cận thận hơn, và làm cho người khác phải chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả việc làm của mình. Vấn đề người ủy quyền-người thừa hành: vấn đề người ủy quyền-người thừa hành xuất hiện khi mục tiêu của người ủy quyền và người thừa hành không như nhau, người thừa hành có nhiều thông tin hơn sẽ hành động theo hướng có lợi nhiều nhất cho bản thân, dù điều này có thể đem lại tổn thất cho người ủy quyền. Để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng, nguyên tắc chính đó là giải quyết vấn đề tận nguồn, làm giảm đi sự bất cân xứng về thông tin cho các bên tham gia giao dịch.
Giải pháp này có thể được cung cấp bởi tư nhân, xã hội và chính phủ. Các cơ chế sàng lọc khách hàng Để hạn chế rủi ro đạo đức, người cho vay sẽ phải thực hiện quy trình tín dụng chặt chẽ để giám sát vốn vay sau khi được giải ngân, nhằm vừa đảm bảo vốn vay được sử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 dụng đúng mục đích, đồng thời hỗ trợ khách hàng kịp thời trong kinh doanh. Đồng thời nếu rủi ro xảy ra, người cho vay sẽ có những phản ứng và giải pháp kịp thời. Đối với những khách hàng vay vốn thông thường, việc công bố thông tin về báo cáo tài chính giúp người cho vay giám sát khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm chi phí; hay việc trả tiền mua thông tin từ trung tâm tín dụng cũng giúp người cho vay sàng lọc trước khi cho vay, đồng thời giám sát khách hàng sau khi giải ngân tốt hơn nhờ biết được lịch sử tín dụng, tình hình vay nợ hiện tại của người vay trong toàn hệ thống tín dụng nếu họ đang vay nợ ở nhiều tổ chức tín dụng.
Theo Armedariz và Morduch (2005), các cơ chế khuyến khích như cho vay tăng dần, lựa chọn hình thức trả góp linh hoạt (ngày, tuần, tháng…), giám sát trực tiếp của các nhân viên tín dụng đến thăm gia đình và doanh nghiệp thành viên vay vốn cũng như bạn bè, người thân, hàng xóm góp phần làm giảm tác động tiêu cực từ rủi ro đạo đức của người vay vốn.2 Mô tả quy trình ủy thác vốn từ NHCSXH thông qua các TC CT-XH Hoạt động cho vay vốn của NHCSXH bản chất là một hình thức của triển khai tài chính vi mô (TCVM) đến với người nghèo và các đối tượng chính sách. NHCSXH triển khai những hoạt động liên quan đến các dịch vụ: tín dụng, tiết kiệm, thanh toán để phục vụ cho người nghèo và các đối tượng chính sách mà không cần tài sản thế chấp. Trên thế giới, loại hình TCVM này tồn tại và phát triển nhờ các phương pháp đặc thù bảo đảm cho tỉ lệ trả nợ vay cao và cơ chế sàng lọc khách hàng hiệu quả. Đó là: cho vay theo nhóm, lịch trả nợ thường xuyên và cơ chế tiết kiệm bắt buộc nhằm thay thế cho tài sản đảm bảo2.
Hoạt động cho vay vốn của NHCSXH có những đặc trưng sau: đối tượng cho vay là hộ nghèo hoặc các đối tượng chính sách khó khăn khác; cho vay và thu hồi nợ theo nhóm khách hàng, cụ thể dưới hình thức Tổ Tiết kiệm và Vay vốn (TK&VV); ủy thác cho vay thông qua các TC CT-XH làm cầu nối. Tổ TK&VV được thành lập nhằm tập hợp các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn của NHCSXH để sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống; cùng tương trợ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống; cùng liên đới chịu trách nhiệm trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng.12-21) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các TC CT-XH làm dịch vụ uỷ thác từng phần cho NHCSXH có nhiệm vụ chính là cầu nối giữa NHCSXH với người nghèo và các đối tượng chính sách, thông qua tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Tổ TK&VV tại cơ sở có đủ điều kiện trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác tín dụng đến khách hàng. Thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ – CP của Chính phủ, đến nay NHCSXH đã ký văn bản thoả thuận, uỷ thác cho vay chương trình tín dụng hộ nghèo thông qua 4 tổ chức chính trị - xã hội: Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. NHCSXH ủy thác cho các TC CT-XH thực hiện 06 nội dung công việc sau trong quy trình cho vay hộ nghèo và các chương trình tín dụng chính sách khác: 1.
Tổ chức họp các đối tượng vay vốn thuộc diện thụ hưởng các chính sách tín dụng có ưu đãi của Chính phủ. Thông báo và phổ biến các chương trình chính sách tín dụng có ưu đãi của Chính Phủ đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hướng dẫn việc thành lập Tổ TK&VV; chỉ đạo và hướng dẫn tổ TK&VV tổ chức họp Tổ, bình xét công khai các hộ có nhu cầu xin vay vốn và đủ điều kiện vay đưa vào Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH theo quy định nghiệp vụ cho vay của từng chương trình, trình Ban xóa đói giảm nghèo cấp xã xác nhận, Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp xã xét duyệt và đề nghị ngân hàng cho vay. Nhận và thông báo kết quả phê duyệt danh sách hộ gia đình được vay vốn cho tổ TK&VV để tổ TK&VV thông báo đến từng hộ gia đình được vay vốn.
Kiểm tra, đôn đốc hoạt động của các tổ TK&VV thuộc phạm vi của tổ chức CT-XH quản lý. Giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các hộ. Phối hợp với Ban quản lý tổ TK&VV đôn đốc người vay trả nợ gốc, lãi theo định kỳ đã thỏa thuận. Thông báo kịp thời cho Ngân hàng nơi cho vay về các trường hợp sử dụng vốn vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chết, mất tích,…) và rủi ro do nguyên nhân chủ quan như: sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay trốn,… để có biện pháp xử lí thích hợp, kịp thời.
Phối hợp cùng NHCSXH và chính quyền địa phương xử lí các trường hợp nợ chây ỳ, nợ quá hạn và hướng dẫn hộ vay lập hồ sơ đề nghị xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan (nếu có). Chỉ đạo và giám sát Ban quản lý tổ TK&VV trong việc: • Đôn đốc các tổ viên đem tiền đến điểm giao dịch của NHCSXH để trả nợ gốc theo kế hoạch trả nợ đã thỏa thuận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 • Thực hiện việc thu lãi, thu tiền tiết kiệm (đối với các tổ TK&VV được NHCSXH ủy nhiệm thu); chỉ đạo Ban quản lý tổ TK&VV đôn đốc các tổ viên đem tiền đến các điểm giao dịch của NHCSXH để trả lãi, gửi tiết kiệm (nếu có) theo định kỳ đã thỏa thuận (đối với các tổ TK&VV không được NHCSXH ủy nhiệm thu) 6. Theo dõi hoạt động của tổ TK&VV, đôn đốc Ban quản lý tổ TK&VV thực hiện hợp đồng ủy nhiệm đã ký với NHCSXH. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ ủy thác cho cán bộ tổ chức Hội, Ban quản lý tổ TK&VV để hoàn thành công việc ủy thác cho vay.
Quy trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác Hình 2.1 Quy trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại NHCSXH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên quy trình cho vay của NHCSXH Phí dịch vụ ủy thác cho vay Để thực hiện ủy thác cho vay, NHCSXH sẽ phải trả một khoản phí ủy thác cho TC CT-XH nhất định. Mức phí dịch vụ ủy thác mà hiện nay NHCSXH trả cho các TC CT- XH tối đa là 0,045%/tháng tính trên số dư nợ có thu được lãi. Mức phí ủy thác này đã được điều chỉnh giảm từ 0,08%/tháng vào cuối năm 2006 xuống còn 0,06%/tháng đầu năm 2007, và điều chỉnh còn 0,045%/tháng vào năm 2009. Việc chi trả này phụ thuộc vào chất lượng dư nợ tín dụng ủy thác, cụ thể, nếu dư nợ do TC CT-XT nhận ủy thác có tỷ lệ nợ quá hạn đến 5% thì TC CT-XH đó được hưởng 100% mức phí ủy thác; dư nợ do TC CT-XT nhận ủy thác có tỷ lệ nợ quá hạn từ trên 5% đến 7% thì TC CT-XH đó được hưởng 80% mức phí ủy thác; dư nợ do TC CT-XT nhận ủy thác có tỷ lệ nợ quá hạn từ trên 7% đến 10% thì TC CT-XH đó được hưởng 50% mức phí ủy thác; dư nợ do TC CT-XT nhận ủy thác có tỷ lệ nợ quá hạn trên 10% thì TC CT-XH đó không được hưởng phí ủy thác.
Mức phí ủy thác này sẽ được phân chia giữa các cấp TC CT-XH. Hiện nay, cả bốn TC CT-XH thống nhất phân bổ mức phí dịch vụ ủy thác cho từng cấp được thực hiện theo văn bản số 747/NHCS-TD của NHCSXH qui định, cụ thể: Hội cấp Trung ương nhận 3% trên tổng phí ủy thác; Hội cấp tỉnh nhận 5%; Hội cấp huyện nhận 8%; Hội cấp xã nhận 84% trên tổng phí ủy thác.