MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quy hoạch sử dụng đất là một trong mười ba nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 25, 26); Căn cứ để giao đất cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đều phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (Khoản 1 - Điều 31).
Như vậy quy hoạch sử dụng đất giúp quản lý bố trí sử dụng đất một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, cải thiện môi trường sinh thái và tránh lãng phí tài nguyên đất. Điều này ngày càng thiết thực khi môi trường sinh thái của nhiều nơi đang chịu những tác động xấu của quá trình sản xuất và sinh hoạt. Sự phát triển nhanh nhưng thiếu tính đồng bộ và thống nhất trong 12 xây dựng cơ sở hạ tầng dân sinh kinh tế ở nhiều nơi đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập, thực hiện, quản lý và giám sát quy hoạch sử dụng đất ở một số địa phương còn hạn chế, việc lập quy hoạch sử dụng đất các cấp chưa đồng bộ, kết quả thực hiện phương án quy hoạch còn thấp hoặc quá cao; việc xác định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành chưa sát thực tế, quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung.
Cho nên, việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất là rất cần thiết. Cẩm Khê là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, có diện tích tự nhiên là 23.464,82 ha, với 30 xã và 01 thị trấn. Huyện Cẩm Khê đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3787/QĐ-UB ngày 19 tháng 12 năm 2000. Do quá trình phát triển Kinh tế, Văn hóa - Xã hội, phát triển dịch vụ và du lịch trong vùng với nhu cầu mới về xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng các xí nghiệp.
Việc cải tạo và đầu tư về cơ sở hạ tầng là nhu cầu cần thiết. Nên UBND huyện Cẩm Khê đã lập phường án điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2005 - 2010 được phê duyệt tại Quyết định số 3465/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2006 của UBND tỉnh Phú Thọ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương thực hiện việc quản lý và sử dụng đất từ năm 2001 đến năm 2010. Sau một thời gian thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, huyện Cẩm Khê đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển Kinh tế - Xã hội.
Nhưng một số nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện triệt để, do nhiều nguyên nhân, dẫn đến tính khả thi của phương án quy hoạch chưa cao. Nhưng việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch đó ra sao, kết quả đạt được thế nào, có những tồn tại gì, nguyên nhân do đâu, cần phải có giải pháp nào khắc phục, v. 13 Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001- 2010, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ’’. Mục đích của đề tài Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2010 nhằm đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất, làm rõ những ưu điểm đạt được, những tồn tại trong thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất và nguyên nhân của những tồn tại; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo góp phần đắc lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã- hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Cẩm Khê, đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai vào nền nếp.
Yêu cầu của đề tài - Nắm vững phương án quy hoạch sử dụng đất và phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. - Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn tiếp theo. 14 PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 2. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Thuật ngữ “Quy hoạch sử dụng đất đai” tương ứng với tiếng Anh “land used planning”; thuật ngữ đồ án “plan” cũng còn dùng là quy hoạch, cũng đã quen dùng với những mức độ khác nhau như: đồ án quy hoạch tổng hợp “Master plan”, đồ án quy hoạch tổng thể “Comprehensive plan”, đồ án quy hoạch chung “General plan”, hoặc chính là đồ án quy hoạch “The plan”. Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức. “Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần phải lập quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định. Theo FAO [30] định nghĩa quy hoạch sử dụng đất như sau: "Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai. Yêu cầu 15 cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất".
Theo Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai định nghĩa [17]: "Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường". Về mặt bản chất quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó: - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai; - Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu.; - Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định tại điều 16, Luật Đất đai 2003[22].
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai cần phải nắm vững hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước và tổ chức quản lý sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất. Theo đó, quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các mục tiêu sau: - Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều phải được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định; - Tính hợp lý: Việc sử dụng đất phải phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích theo mục đích sử dụng; - Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến; 16 - Tính hiệu quả: Phải đáp ứng được cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường. Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường. Mặt khác, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa nước và đất lâm nghiệp có rừng) sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, gây ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương.