phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất tại các dự án thủy điện trên địa bàn huyện Văn Quan – tỉnh Lạng Sơn Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất dự án thủy điện trên địa bàn huyện Văn Quan – tỉnh Lạng Sơn 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của nhà nƣớc đối với quản lý đất đai và đối với đất các dự án thủy điện 1.1 Vai trò của nhà nƣớc trong quản lý đất đai ở nƣớc ta Ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử riêng, trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể và mục tiêu phát triển đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý (Điều 19 Hiến pháp 1980; Điều 17 Hiến pháp 1992; Điều 53 Hiến pháp 2013). Đây là cơ sở pháp lý cao nhất xác định rõ Nhà nƣớc ta là đại diện chủ sở hữu đối với toàn bộ quỹ đất quốc gia. Căn cứ để xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam [15]: - Đất đai là tặng vật của thiên nhiên, do đó chế độ sở hữu tƣ nhân về đất đai là vô lý bởi không ai có quyền chiếm hữu những thứ không phải do mình tạo ra.
- Các cuộc chiến tranh chống xâm lƣợc từ xƣa đến nay của cha ông đều phải trả bằng xƣơng máu và sức lực của toàn dân tộc mới giữ đƣợc chủ quyền quốc gia. - Mô hình kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc một số tƣ liệu sản xuất chủ yếu trong đó có đất đai phải thuộc sở hữu tập thể (toàn dân). - Trong xã hội công nghiệp , quyền chiếm hữu, sử dụng và quyền quản lý có thể tách rời nhau mà không ảnh hƣởng tới hiệu quả sử dụng về mặt kinh tế, xã hội. Do đó, quan trọng là phải xác định rõ quyền, nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất khi đƣợc Nhà nƣớc trao quyền sử dụng thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất… - Ngay trong trƣờng hợp luật pháp công nhận chế độ sở hữu tƣ nhân về đất đai thì đấy cũng chỉ là hình thức sở hữu không đầy đủ, trọn vẹn bởi chủ sở hữu không đƣợc sử dụng vào mục đích mà pháp luật không cho phép và quyền định đoạt chỉ đƣợc thực hiện trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nƣớc.
Vì vậy, không có sự khác nhau nhiều giữa chế độ sở hữu tƣ nhân và chế độ sở hữu toàn dân mà ở trong chế độ đó ngƣời sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc cho hƣởng các quyền nhƣ quyền của chủ sở hữu. 5 z - Nhà nƣớc đã trải qua thời gian chiến tranh lâu dài với sự thay đổi của nhiều chế độ chính trị, biến động về đất đai cũng nhƣ chủ sử dụng rất phức tạp, lịch sử quan hệ đất đai để lại cũng rất phức tạp. Việc thống nhất chế độ sở hữu toàn dân về đất đai sẽ tạo điều kiện lập một nền chính trị ổn định, cải thiện hệ thống hành chính, tạo công bằng xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trƣờng. - Nhà nƣớc nắm quyền định đoạt chủ yếu thông qua hệ thống quản lý đất đai sẽ gây động lực để ngƣời sử dụng phải nỗ lực tạo hiệu quả trong việc sử dụng đất cao nhất.
* Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay [14]: Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nƣớc là ngƣời đại diện duy nhất. Nhà nƣớc thực hiện các quyền của ngƣời sở hữu nhƣ sau: Quyền định đoạt đối với đất đai: - Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. - Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất. - Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với ngƣời sử dụng đất, thu hồi đất.
- Định giá đất. Quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai: - Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. - Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. - Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tƣ của ngƣời sử dụng đất mang lại.
- Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với ngƣời đang sử dụng đất ổn định, quy định quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. - Nhà nƣớc thống nhất quản lý về đất đai trong cả nƣớc. 6 z - Nhà nƣớc có chính sách đầu tƣ cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ năng lực, đảm bảo quản lý đất đai có hiệu quả và hiệu lực. * Chế độ sử dụng đất đai [14]: Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nƣớc quy định chế độ sử dụng đất đai nhƣ sau: - Nhà nƣớc giao quyền sử dụng đất nhƣ một tài sản cho ngƣời sử dụng đất trong hạn mức phù hợp với mục đích sử dụng và Nhà nƣớc công nhận quyền sử dụng đất đối với ngƣời sử dụng đất hợp pháp.
- Ngƣời sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc cho phép thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, thừa kế, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, tặng cho đối với một số chế độ sử dụng đất cụ thể và trong thời hạn sử dụng đất. - Nhà nƣớc thiết lập hệ thống quản lý Nhà nƣớc về đất đai thống nhất trong cả nƣớc. Mô hình này tạo đƣợc ổn định xã hội, xác lập đƣợc tính công bằng trong hƣởng dụng đất và bảo đảm đƣợc nguồn lực đất đai cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, phù hợp với mô hình kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. * Vai trò của công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai: Có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội loài ngƣời và có những đặc trƣng riêng, đất đai đƣợc Nhà nƣớc thống nhất quản lý nhằm: - Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.
Đất đai đƣợc sử dụng vào tất cả các hoạt động của con ngƣời, tuy có hạn về mặt diện tích nhƣng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý. Thông qua chiến lƣợc sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nƣớc điều tiết để các chủ sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lƣợc đã đề ra. - Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nƣớc nắm bắt đƣợc quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất. Trên cơ sở đó có những biện pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất.
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc đảm bảo 7 z lợi ích chính đáng của ngƣời sử dụng đất đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nƣớc trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất. - Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nƣớc nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tƣợng sử dụng đất. Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm. - Việc quản lý Nhà nƣớc về đất đai còn giúp Nhà nƣớc ban hành các chính sách, quy định, thể chế, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những chính sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chƣa phù hợp với thực tế và góp phần đƣa pháp luật vào cuộc sống.
* Nội dung quản lý nhà nƣớc về đất đai: Nội dung quản lý Nhà nƣớc về đất đai đƣợc quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003 (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004) gồm 13 nội dung: 1) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. 2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. 3) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. 4) Quản lý quy hoach, kế hoạch sử dụng đất.
5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. 6) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 7) Thống kê, kiểm kê đất đai. 8) Quản lý tài chính về đất đai.
9) Quản lý và phát triển thị trƣờng quyền sử dụng đất trong thị trƣờng bất động sản. 10) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. 11) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. 8 z 12) Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
13) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực kể từ 01/7/2014). Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhƣng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003. Trong đó, Luật Đất đai 2013 quy đinh ̣ rõ 15 nội dung quản lý của nhà nƣớc đố i với đất đai tại mục 2, Điều 22, cụ thể: 1) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.
2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. 3) Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.