Đặt vấn đề Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Trong quá trình vận động, đất đai trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt của xã hội và không thể thay thế bởi bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào khác. Đã có nhiều quy định của nhà nước khẳng định và nhấn mạnh rằng: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Cụ thể ở hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
Tại hiến pháp năm 1959 và hiến pháp năm 1980, Nhà nước được coi là nhà quản lý lớn nhất khi Luật Đất đai năm 2003 tiếp tục khẳng định tư tưởng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện làm chủ sở hữu. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai, hệ thống chính sách pháp luật đất đai, hệ thống quản lý hành chính nhà nước về đất đai cũng được xây dựng hoàn thiện hơn. Trong hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định “Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thống nhất quản lý đát đai theo hiến pháp và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất, thống nhất quản lý đất đai theo hiến pháp và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả”. Trong điều 8 chương II luật đất đai 2003 cũng nêu rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, hệ thống tổ chức đất đai được thành lập từ TW đến cơ sở gắn liền với quản lý tài nguyên và môi trường”.
Chính sách đất đai là một phần trong chính sách chung của nhà nước đang thực hiện, bao trùm các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đất đai, quyền phân phối và chuyển dịch, giá cả và các vấn đề liên quan đến đất đai. Hiện nay, cùng e 2 với sự giúp đỡ của máy móc hiện đại, kỹ thuật tiên tiến đồng thời có sự giúp sức của các quốc gia trên thế giới, hệ thống chính sách pháp luật đất đai của nước ta ngày càng hoàn thiện và hiện đại hơn. Tuy nhiên trước sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế xã hội các quan hệ đất đai ngày càng phát sinh nhiều hơn và phức tạp hơn. UBND xã Quan Bản, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, trong quá trình chuyển đổi cơ chế và thực hiện luật đất đai của Nhà nước, hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai là vấn đề hết sức quan trọng đang được sự quan tâm của Đảng uỷ, UBND xã và các ban, ngành có liên quan.
Qua 13 năm thực hiện Luật Đất đai 2003, hoạt động về quản lý đất đai đã đạt được một số kết quả đáng kể như việc ban hành các văn bản đã tạo nên một hệ thống pháp luật đồng bộ, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Thế nhưng việc quản lý đất đai còn nhiều hạn chế, tồn tại cần giải quyết như viêc cấp GCNQSD đất có thời gian bị gián đoạn khi thực hiện cấp theo mẫu mới, các hiện tượng: sử dụng đất trái pháp luật, lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép vẫn xảy ra phổ biến đặc biệt là hiện tượng tranh chấp đất đai ngày càng tăng và diễn biến phức tạp. Hơn nữa, quá trình đô thị hoá nhanh, không theo quy hoạch dẫn đến tình trạng mất đất sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai của cấp thẩm quyền. Như vậy, một thực tế đặt ra là làm thế nào để thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Quan Bản hợp lý và theo pháp luật là việc làm cần thiết.
Đáp ứng yêu cầu cần thiết này, được sự phân công của khoa Quản Lý Tài Nguyên- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã đi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Quan Bản, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 đến hết tháng 6/ 2014”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá tình hình quản lý đấtđai trên địa bàn xã Quan Bản. huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn theo 13 nội dung quản lý đất đai giai đoạn 2012 đến hết tháng 6/ 2014.
- Đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơi trong thời gian tới. Yêu cầu - Nắm vững luật đất đai, các nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo 13 nội dung. - Số liệu điều tra phải trung thực, chính xác. - Giải pháp đề xuất phải có tính khoa học, khả thi, phù hợp với tình hình thực tế của xã.
Ý nghĩa của đề tài -Ý nghĩa trong khoa học: Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế. -Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của xã Quan Bản. Từ đó, đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã được tốt hơn. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai 2.1 Cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nước về đất đai * Sơ lược về lịch sử ngành địa chính và quản lý Nhà nước về đất đai qua các thời kỳ. Danh từ địa chính xuất hiện khi xã hội loài người hình thành và phát triển các quốc gia, khi mà ðất ðai trở thành nguồn lực to lớn của Nhà nýớc. Ðể phát huy tối ða tiềm nãng, nguồn lực của ðất ðai phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ðất nýớc thì đòi hỏi nghành địa chính có những quy định cụ thể về chế độ quản lý và sử dụng đất phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử. Thời kỳ nô lệ.
- Trong thời kỳ đầu lập nước: Thời kỳ này quan hệ đất đai có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhưng quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà Vua và các quan lại, một phần thuộc về công xã nông thôn. - Trong thời kỳ Bắc thuộc: Hình thức sở hữu của công xã nông thôn vẫn còn tồn tại và phát triển vững chắc, hình thức này đựơc duy trì một nghìn năm Bắc thuộc. Mặc dù dưới chế độ đô hộ của chế độ phong kiến phương Bắc, hình thức này không còn được nguyên vẹn như trước. Công tác địa chính đã được thực hiện từ khi các bộ lạc chấm dứt tình trạng du mục để sống quây quần thành xã hội, con người bấy giờ tuy chất phát nhưng tạo một cuộc sống riêng tư, trong đó đất đai là sản phẩm chính của cá nhân nhưng tập thể sơ khai muốn thoả mãn nhu cầu của mình phải nghĩ đến một phần tạo ra lợi tức trên sản phẩm ấy.
Thuế điền thổ phát sinh từ đố, muốn e 5 tính thuế công bằng phải biết diện tích, tính chất và lợi tức của tiền sản. Do đó xuất hiện công tác địa chính. Thời kỳ phong kiến. Thời kỳ nhà Lý, Trần nhà vua chấp nhận 3 hình thức sở hữu đất đai: sở hữu Nhà vua, sở hữu tập thể và sở hữu nhân dân.
Thời kỳ nhà Lê chính quyền trung ương đặt ra biện pháp nhằm can thiệp vào quyền sở hữu ruộng đất làng xã, tiến hành kiểm kê đất đai, lập sổ địa bạ. Dưới đời nhà Hồ với chính sách “Hạn danh điền”, Nhà nước chính thức tuyên bố hàng loạt đạo dụ theo luật “Quân điền” thời Hồng Đức ban hành năm 1481: “Đất đai là tài sản của Nhà nước”. Nhà Lê suy yếu, ruộng đất tư phát triển lấn át ruộng đất công, sở hữu tư nhân ban đầu chiếm ưu thế, sở hữu Nhà nứơc, sở hữu làng xã dần dần tan rã. Thời kỳ nhà Nguyễn “Thời kỳ nhà Nguyễn Tây Sơn” (1789-1802) sau khi lên ngôi, hồi dân phiêu tán.
Thời kỳ nhà Nguyễn (1802-1884): Thời kỳ này Nhà Nguyễn (1806) do hoàn cảnh công tác đo đạc lập sổ địa bạ còn dở dang từ hồi Lê cho 18.000 xã từ Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mau, Nguyễn Ánh cho ba hành Luật Gia Long, có 14 điều nói về luật đất đai. Trong đố xác định quyền sở hữu tối thượng của Nhà vua đối với ruộng đất công quản, đất tư quản.Ra chính sách “Ai khai khẩn đất hoang thì được quyền sở hữu và sử dụng thành ruộng tư” nên diện tích lãnh thổ thời kỳ này lớn hơn so với các thời kỳ trước. Thuế đất được xác định cụ thể, được thu triệt để cho ngân sách quốc gia. Thời kỳ Gia Long (1806), Nhà nước phong kiến tiến hành đo đạc lập địa bạ cho từng xã với nội dung ghi rõ công tư, điền thổ, diện tích, sở hữu cận đinh hay sử địa bạ lập thành 3 bản: bản Giáp nộp tại bộ Hộ, bản Binh nộp tại Đinh bộ Chánh và bản Đinh để tại xã.
Ngoài ra còn quy định đại tu và tiểu tu địa năm năm một lần. e 6 Đến thời kỳ Minh Mạng (1830) đưa ra chế độ hạn điền lần hai trên cơ sở vận động “Khuyến hiến điền”, địa bộ được lập thành 3 bản: bản Giáp nộp tại bộ Hộ, bản Ất nộp tại bộ Chánh, bản Binh lưu tại xã. Thời kỳ Pháp thuộc (1883-1845). Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, đất nước chia làm 3 thời kỳ: Bác Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, ở mỗi kỳ thực hiện một chế độ cai trị khác nhau.
- Ở Bắc kỳ: áp dụng chế độ quân thủ địa chính. Năm 1906 sở địa chính chính thức ra đời sau khi phân định ranh giới các Tổng, Huyện. Năm 1912, sở địa chính đo đạc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc giang, Phúc Yên, Thái Bình. Năm 1920 công tác đo đạc để tính thuế cơ bản xong các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng được coi là nhương của Pháp áp dụng chế độ điền thổ theo sác lệnh ngày 02/02/1925.
Còn các tỉnh lập ty địa chính. - Ở Nam Kỳ: áp dụng chế độ địa tô. Năm 1867, người Pháp đã lập sở địa chính Sài Gòn. Năm 1871-1898, ở Sài Gòn lập nên tam giác để đo đạc giải thửa.
- Đến năm 1930, ở các tỉnh phía Tây và phía Nam của Nam kỳ đac lập được bản đồ giải thửa tỷ lệ 1/4000; 1/1000; 1/500.