Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia có hạn, không thể tái tạo, giữ vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt và là điều kiện vật chất nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh phát triển kinh tế, gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ ngày càng gia tăng. Việc khai thác tài nguyên đất thiếu quy hoạch hoặc không đi kèm các biện pháp bảo vệ, bồi bổ dẫn đến nguy cơ suy thoái, cạn kiệt. Do đó, việc thiết lập và vận hành một hệ thống quản lý nhà nước về đất đai đồng bộ, hiệu quả và đúng pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm sử dụng quỹ đất tiết kiệm, hợp lý.
Huyện Văn Quan là địa bàn miền núi của tỉnh Lạng Sơn, có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhận thức pháp luật của người dân chưa đồng đều, đồng thời trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ địa chính cơ sở còn nhiều hạn chế. Mặc dù công tác quản lý đất đai đã được duy trì liên tục qua các thời kỳ từ Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 cho đến Luật Đất đai năm 2003, việc thực thi công tác này trên địa bàn huyện trong thực tế phát sinh nhiều vướng mắc. Trước bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2013" do sinh viên Hoàng Văn Anh thực hiện (ngành Quản lý đất đai, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) đã tiến hành tổng kết thực tiễn nhằm làm rõ bức tranh quản lý đất đai tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm:
- Tìm hiểu tình hình quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn 2010 - 2013 của huyện Văn Quan theo 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
- Đánh giá những điểm mạnh và hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng đất đai của huyện Văn Quan giai đoạn 2010 - 2013.
- Tìm ra những nguyên nhân và đề ra một số giải pháp để thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tiếp theo.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu đòi hỏi tác giả phải nắm vững khung pháp lý đất đai của Trung ương và địa phương (trọng tâm là Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003 cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn); điều tra, thu thập số liệu trung thực, khách quan phản ánh đúng thực trạng tại địa phương; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế và quy định pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Văn Quan. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 24 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn; phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2010 - 2013. Đề tài được triển khai thực hiện tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Quan trong khoảng thời gian từ ngày 20/01/2014 đến ngày 30/04/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận dựa trên định nghĩa quản lý nhà nước về đất đai do PGS.TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007) xác lập: đó là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai; bao gồm việc nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng và điều tiết nguồn lợi từ đất đai. Nghiên cứu xác định hệ thống công cụ quản lý đất đai gồm ba nhóm trụ cột: công cụ pháp luật, công cụ quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất và công cụ tài chính. Đồng thời, các biện pháp quản lý được chia thành hai nhóm chính: nhóm phương pháp thu thập thông tin (thống kê, toán học, điều tra xã hội học) và nhóm phương pháp tác động hành vi con người (hành chính, kinh tế, tuyên truyền giáo dục).
Hệ thống cơ sở pháp lý được tác giả rà soát và áp dụng trong khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp Trung ương và địa phương:
- Hiến pháp năm 1992; Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001); Luật Đất đai năm 2003.
- Các nghị định của Chính phủ: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 182/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Các thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT, Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT về thống kê, kiểm kê đất đai; Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT, Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT về lập và quản lý hồ sơ địa chính; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT, Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT về lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT, Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT, Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT hướng dẫn cấp giấy chứng nhận; Quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT về quy phạm thành lập bản đồ địa chính; Quyết định số 10/2008/QĐ-BTNMT về định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp GCNQSDĐ.
- Các thông tư của Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch: Thông tư số 114/2004/TT-BTC, Thông tư số 117/2004/TT-BTC; TTLT số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT về công chứng, chứng thực; TTLT số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT.
- Các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Quyết định số 13/2008/QĐ-UBND (chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư); Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND (hạn mức giao và công nhận đất ở); Quyết định số 10/2010/QĐ-UBND (quy định thời gian thực hiện thủ tục thu hồi, giao đất, cho thuê đất); Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND (quy định thời gian cấp GCN và đăng ký biến động); Chỉ thị số 364/CT-TTg và Chỉ thị số 31/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; các bảng giá đất hàng năm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tiếp cận và khai thác hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết ngành, số liệu thống kê đất đai, báo cáo kinh tế - xã hội lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Quan, Ủy ban nhân dân huyện Văn Quan và Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Phương pháp phân tích văn bản pháp lý: Nghiên cứu, hệ thống hóa các quy định hiện hành nhằm đối chiếu với các quyết định quản lý tại địa phương.
- Phương pháp xử lý, phân tích và tổng hợp số liệu: Sử dụng các bảng biểu thống kê để phân loại, đối chiếu các chỉ tiêu hiện trạng, quy hoạch, giao đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính giữa các mốc thời gian trong giai đoạn 2010 - 2013.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của đất đai và áp lực gia tăng nhu cầu sử dụng đất trong giai đoạn phát triển kinh tế. Tác giả nêu bật những đặc thù miền núi của huyện Văn Quan với xuất phát điểm kinh tế thấp, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, từ đó xác lập sự cần thiết phải tổng kết công tác quản lý đất đai theo Luật Đất đai năm 2003. Phần này cũng công bố ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể, ba yêu cầu chuyên môn gắn với tính trung thực khách quan của số liệu và phạm vi nghiên cứu tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai, quan hệ đất đai qua các hình thái kinh tế - xã hội, công cụ và phương pháp quản lý. Đồng thời, chương này tổng kết khung văn bản quy phạm pháp luật đất đai của Việt Nam từ năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu; điểm qua tình hình quản lý đất đai trên cả nước (công tác đo đạc, quy hoạch, cấp giấy chứng nhận, thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo với số liệu tiếp nhận 307.797 lượt khiếu nại tố cáo trong năm 2010 mà 61% liên quan đến đất đai). Tác giả khái quát tình hình tổ chức bộ máy ngành tài nguyên và môi trường tỉnh Lạng Sơn, việc ban hành các quyết định quản lý đất đai của tỉnh và sơ lược hiện trạng tổ chức bộ máy cán bộ địa chính huyện Văn Quan. Toàn huyện có 34 cán bộ địa chính, gồm 11 cán bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường (trong đó 4 cán bộ thuộc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất) và 24 cán bộ địa chính tại 24 xã, thị trấn. Cơ cấu trình độ chuyên môn gồm 06 người trình độ Đại học, 01 người Cao đẳng và 17 người Trung cấp, bộc lộ sự hạn chế về năng lực chuyên môn so với khối lượng công việc.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 3 xác định địa điểm thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Quan (từ 20/01/2014 đến 30/04/2014); xác lập đối tượng nghiên cứu là 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Tác giả vạch rõ các nội dung triển khai gồm: đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất của huyện; đánh giá chi tiết 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai của huyện Văn Quan từ năm 2010 đến năm 2013; đánh giá chung những mặt đạt được, tồn tại và nguyên nhân. Chương này đồng thời mô tả các phương pháp thu thập, phân tích, xử lý và so sánh số liệu được sử dụng trong khóa luận.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các phương diện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kết quả thực thi 13 nhiệm vụ quản lý đất đai tại huyện Văn Quan:
-
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Văn Quan có diện tích tự nhiên 55.028,23 ha, gồm 23 xã và 1 thị trấn; địa hình núi đá vôi hiểm trở, chia cắt mạnh, độ cao trung bình khoảng 400 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 21,7°C, lượng bốc hơi 811 mm. Mạng lưới sông ngòi gồm sông Kỳ Cùng (đoạn qua huyện dài 35 km) và sông Môpya (dài 50 km). Đất đai chủ yếu là nhóm đất Feralit chiếm 93,47% (đất vàng nhạt trên đá cát Fq chiếm 61,54%, đất đỏ vàng trên đá sét Fs chiếm 14,24%, đất đỏ nâu trên đá vôi Fv chiếm 10,15%). Về kinh tế, giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng từ 137,10 tỷ đồng (2005) lên 172,01 tỷ đồng (2010); độ che phủ rừng đạt 47% năm 2010. Dân số năm 2010 là 54.266 người (12.516 hộ), lao động nông nghiệp chiếm 88,69% tổng số lao động. Cơ sở hạ tầng có Quốc lộ 1B dài 50 km, các tuyến Tỉnh lộ 240, 232, 239; có 540 công trình thủy lợi (diện tích thiết kế tưới 2.320 ha); còn 7 xã chưa có đường ô tô đi lại 4 mùa (chiếm 29,20%).
-
Hiện trạng sử dụng đất năm 2013:
Tổng diện tích tự nhiên là 55.028,23 ha, phân bổ theo ba nhóm đất:
- Đất nông nghiệp: 46.064,43 ha (chiếm 83,71%), gồm đất sản xuất nông nghiệp 8.806,34 ha (đất trồng cây hàng năm 7.018,31 ha, đất trồng lúa 4.010,45 ha, đất trồng cây lâu năm 1.788,03 ha); đất lâm nghiệp 37.157,91 ha (chiếm 67,53%, gồm rừng sản xuất 27.557,18 ha, rừng phòng hộ 8.539,73 ha, rừng đặc dụng 1.061,00 ha); đất nuôi trồng thủy sản 98,96 ha; đất nông nghiệp khác 1,22 ha.
- Đất phi nông nghiệp: 2.601,99 ha (chiếm 4,73%), gồm đất ở 585,00 ha (đất ở nông thôn 544,23 ha, đất ở đô thị 40,77 ha); đất chuyên dùng 1.220,20 ha (đất trụ sở 5,86 ha, đất quốc phòng 21,38 ha, đất an ninh 1,57 ha, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 23,34 ha, đất công cộng 1.168,05 ha); đất nghĩa trang 21,08 ha; đất sông suối, mặt nước 771,26 ha...
- Đất chưa sử dụng: 6.361,81 ha (chiếm 11,56%), trong đó núi đá không có rừng cây chiếm tới 4.496,13 ha (8,17% diện tích tự nhiên).
- Kết quả thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai:
- Công tác đo đạc, lập bản đồ: Đến năm 2013, huyện quản lý 698 tờ bản đồ giải thửa (chỉ thị 299) ở tình trạng cũ dùng đối chiếu trích lục; 1.947 tờ bản đồ địa chính chính quy đạt chất lượng tốt (hoàn thành đo đạc 23/23 xã từ 2008 đến 2010, thị trấn xong năm 2000); 02 tờ bản đồ hiện trạng sử dụng đất và 01 tờ bản đồ quy hoạch sử dụng đất lập năm 2010.
- Thực hiện quy hoạch sử dụng đất (2010 - 2013): Đất nông nghiệp quy hoạch đến 2013 là 46.077,60 ha, thực tế thực hiện 46.064,43 ha (thấp hơn quy hoạch 13,17 ha); đất phi nông nghiệp quy hoạch 2.585,62 ha, thực tế thực hiện 2.601,99 ha (vượt quy hoạch 16,37 ha); đất chưa sử dụng giảm từ 6.507,76 ha (2010) xuống còn 6.361,81 ha (2013), giảm 142,75 ha để chuyển sang đất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
- Giao đất, cho thuê đất: Toàn huyện thực hiện giao đất cho 39 trường hợp với tổng diện tích 12,1 ha (đạt 92,86% số đơn xin giao đất). Trong đó giao cho 8 tổ chức với diện tích 1,4 ha (11,5% diện tích giao) và 31 hộ gia đình, cá nhân với diện tích 10,7 ha (88,5% diện tích giao). Trong kỳ 2010 - 2013 không phát sinh trường hợp cho thuê đất nào do huyện chưa phát triển trung tâm phát triển quỹ đất.
- Thu hồi đất và chuyển mục đích: Tổng diện tích đất đã thu hồi giai đoạn 2010 - 2013 là 400,639 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 368,289 ha, tương đương 91,9%; đất phi nông nghiệp thu hồi 32,35 ha). Về chuyển mục đích sử dụng đất, phòng ban chuyên môn đã lập thủ tục cho phép chuyển mục đích đối với 69 trường hợp với diện tích 61,5 ha (chủ yếu từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp).
- Đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ và hồ sơ địa chính: Sau đo đạc bản đồ chính quy, huyện đã cấp GCNQSDĐ cho 24/24 xã, thị trấn với tổng cộng 46.220 thửa đất, diện tích 19.077,87 ha (đạt 51,44% tổng diện tích cần cấp). Qua các năm từ 2010 đến 2013, số hồ sơ cấp mới/cấp đổi lần lượt là 50 hồ sơ (2010), 42 hồ sơ (2011), 76 hồ sơ (2012) và 84 hồ sơ (2013). Đăng ký biến động giao dịch bảo lãnh thế chấp lần lượt qua các năm là 92, 30, 29 và 26 hồ sơ. Hệ thống hồ sơ địa chính dạng giấy được bảo quản gồm 131 quyển sổ địa chính, 109 quyển sổ mục kê, 90 quyển sổ cấp GCNQSDĐ và 50 quyển sổ theo dõi biến động, đều ở tình trạng sử dụng tốt nhưng chưa được số hóa.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng hợp những kết quả đạt được trong việc củng cố hồ sơ pháp lý, đo đạc địa chính, lập quy hoạch và cấp GCNQSDĐ tại huyện. Đồng thời, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp và kiến nghị đối với cấp tỉnh và cấp huyện nhằm kiện toàn bộ máy cán bộ địa chính xã, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ địa chính, nâng cao hiệu quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và kiểm soát việc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính trong công tác quản lý đất đai của huyện Văn Quan
| Chỉ tiêu quản lý đất đai |
Đơn vị tính |
Số liệu giai đoạn 2010 - 2013 |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
ha |
55.028,23 |
| - Diện tích đất nông nghiệp (chiếm 83,71%) |
ha |
46.064,43 |
| - Diện tích đất phi nông nghiệp (chiếm 4,73%) |
ha |
2.601,99 |
| - Diện tích đất chưa sử dụng (chiếm 11,56%) |
ha |
6.361,81 |
| Bản đồ địa chính chính quy đã đo vẽ |
tờ |
1.947 (hoàn thành 23/23 xã và 01 thị trấn) |
| Bản đồ giải thửa (chỉ thị 299) lưu trữ |
tờ |
698 |
| Tổng số trường hợp được giao đất |
trường hợp / ha |
39 trường hợp / 12,1 ha |
| - Giao đất cho tổ chức |
trường hợp / ha |
8 trường hợp / 1,4 ha (chiếm 11,5%) |
| - Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân |
trường hợp / ha |
31 trường hợp / 10,7 ha (chiếm 88,5%) |
| Tổng diện tích đất đã thu hồi |
ha |
400,639 (năm 2010: 59,84 ha; 2011: 106,25 ha; 2012: 84,41 ha; 2013: 150,139 ha) |
| - Đất nông nghiệp bị thu hồi |
ha |
368,289 (chiếm 91,9% tổng diện tích thu hồi) |
| Chuyển mục đích sử dụng đất được cấp phép |
trường hợp / ha |
69 trường hợp / 61,5 ha |
| Kết quả cấp GCNQSDĐ sau đo đạc chính quy |
thửa / ha |
46.220 thửa / 19.077,87 ha (đạt tỷ lệ 51,44% diện tích cần cấp) |
| Hồ sơ địa chính dạng giấy được quản lý |
quyển |
131 sổ địa chính, 109 sổ mục kê, 90 sổ cấp GCN, 50 sổ theo dõi biến động |
| Tổng số cán bộ địa chính toàn huyện |
người |
34 người (11 tại huyện, 24 tại xã; 6 Đại học, 1 Cao đẳng, 17 Trung cấp) |
Giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất
- Về công tác cán bộ: Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ địa chính cấp xã, từng bước chuẩn hóa trình độ chuyên môn đạt từ cao đẳng, đại học để đáp ứng khối lượng công việc ngày càng lớn.
- Về quy hoạch, giải phóng mặt bằng và tài chính đất đai: Cần đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch chi tiết cấp xã; xây dựng cơ chế bồi thường giải phóng mặt bằng sát với thực tế địa phương nhằm giảm thiểu phát sinh khiếu kiện; sớm thành lập và kiện toàn Trung tâm Phát triển quỹ đất của huyện để thực hiện các thủ tục cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất nhằm tạo nguồn thu ngân sách.
- Về quản trị hồ sơ và tuyên truyền pháp luật: Tăng cường công tác phổ biến Luật Đất đai đến từng thôn bản nhằm hạn chế tình trạng hộ dân tự ý san gạt, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở; đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin để từng bước chuyển đổi hệ thống hồ sơ địa chính dạng giấy truyền thống sang cơ sở dữ liệu số.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ, cụ thể về hiện trạng sử dụng đất và kết quả triển khai công tác quản lý nhà nước về đất đai tại một huyện miền núi biên giới phía Bắc trong giai đoạn chuyển giao thi hành Luật Đất đai năm 2003 sang chuẩn bị áp dụng Luật Đất đai năm 2013. Báo cáo làm rõ sự chênh lệch giữa các chỉ tiêu quy hoạch được duyệt với kết quả thực hiện thực tế, cung cấp bằng chứng thực tiễn về những khó khăn điển hình của cấp huyện như thiếu hụt cán bộ có chuyên môn cao, hồ sơ địa chính chưa tin học hóa và tỷ lệ cấp giấy chứng nhận đất lâm nghiệp còn chậm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện khách quan và phạm vi nghiên cứu:
- Công tác quản lý hồ sơ địa chính của huyện hoàn toàn dựa trên phương thức truyền thống với các sổ sách giấy tờ (sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận), chưa được ứng dụng công nghệ thông tin và chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số hóa, dẫn đến khó khăn trong việc cập nhật biến động đất đai thường xuyên.
- Kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới chỉ đạt 51,44% diện tích cần cấp trên địa bàn toàn huyện; công tác cho thuê đất hoàn toàn chưa phát sinh trường hợp nào trong suốt 4 năm do tổ chức bộ máy phụ trợ (trung tâm phát triển quỹ đất) chưa hoàn thiện.
- Đội ngũ cán bộ địa chính xã còn thiếu về biên chế và yếu về chuyên môn (vẫn còn 17/34 cán bộ ở trình độ trung cấp), gây cản trở trực tiếp đến tính chuẩn xác và tốc độ xử lý thủ tục hành chính tại cơ sở.
- Công tác thu hồi đất và giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc về giá đất và việc xác định ranh giới bồi thường, trong khi hiện tượng người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất chưa được cơ quan chức năng giám sát triệt để.
Hướng nghiên cứu tiếp nối được gợi mở từ các hạn chế trên bao gồm: nghiên cứu quy trình số hóa và xây dựng hệ thống thông tin đất đai (LIS) cho huyện miền núi; đánh giá tác động của Luật Đất đai năm 2013 đối với công tác giao đất, thu hồi đất và cấp GCNQSDĐ tại huyện Văn Quan trong các chu kỳ tiếp theo; khảo sát chi tiết hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp sau khi giao đất giao rừng cho hộ gia đình tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế hữu ích đối với sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên môi trường, Địa chính, Luật kinh tế và Quản lý công khi tìm hiểu về phương pháp đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai ở cấp quận, huyện. Khóa luận cung cấp cấu trúc mẫu chuẩn về việc phân tích 13 nội dung quản lý nhà nước theo Luật Đất đai năm 2003, cách thức trích xuất và xử lý số liệu địa chính từ cấp xã đến cấp huyện.
Đối với cán bộ quản lý tài nguyên môi trường tại các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên, địa hình tương đồng, tài liệu này mang lại giá trị tham khảo rõ nét ở phần đánh giá biến động đất đai giữa kỳ quy hoạch, quy trình thành lập bản đồ địa chính chính quy từ bản đồ giải thửa 299 và những kinh nghiệm trong việc phân bổ hạn mức giao đất, thu hồi đất nông nghiệp phục vụ mục đích xây dựng công trình công cộng.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiện trạng cơ cấu đất đai của huyện Văn Quan tính đến ngày 01/01/2014 được phân bổ như thế nào?
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Văn Quan là 55.028,23 ha, chia làm 3 nhóm đất:
- Đất nông nghiệp chiếm ưu thế lớn nhất với 46.064,43 ha (tỷ lệ 83,71%), trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 37.157,91 ha (chiếm 67,53%) và đất sản xuất nông nghiệp là 8.806,34 ha (chiếm 16,00%).
- Đất phi nông nghiệp chiếm 2.601,99 ha (tỷ lệ 4,73%), trong đó diện tích đất ở là 585,00 ha và đất chuyên dùng là 1.220,20 ha.
- Đất chưa sử dụng còn 6.361,81 ha (tỷ lệ 11,56%), đáng chú ý là diện tích núi đá không có rừng cây chiếm tới 4.496,13 ha (8,17% diện tích tự nhiên toàn huyện).
2. Thực trạng cơ cấu và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ địa chính huyện Văn Quan giai đoạn nghiên cứu ra sao?
Toàn huyện Văn Quan có tổng số 34 cán bộ làm công tác địa chính. Trong đó, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện có 11 cán bộ (gồm 1 Trưởng phòng và 4 cán bộ thuộc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất). Ở cấp cơ sở, 24 xã, thị trấn mỗi đơn vị bố trí 01 cán bộ địa chính phụ trách. Về trình độ chuyên môn, chỉ có 06 người đạt trình độ Đại học quản lý đất đai, 01 người đạt trình độ Cao đẳng và 17 người có trình độ Trung cấp, bộc lộ tình trạng năng lực cán bộ cơ sở chưa đồng đều trước khối lượng công việc quản lý lớn.
3. Kết quả đo đạc thành lập bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai của huyện Văn Quan đạt khối lượng bao nhiêu?
Huyện Văn Quan đã lưu trữ và vận hành 4 loại bản đồ:
- Bản đồ giải thửa (theo Chỉ thị 299): 698 tờ (tình trạng cũ, dùng làm căn cứ đối chiếu và trích lục).
- Bản đồ địa chính chính quy: 1.947 tờ (tình trạng tốt, hoàn thành đo đạc xong toàn bộ 23/23 xã từ năm 2008 đến 2010, thị trấn Văn Quan hoàn thành từ năm 2000).
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất: 02 tờ (tình trạng tốt).
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất: 01 tờ lập năm 2010 (tình trạng tốt).
4. Kết quả giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2010 - 2013 như thế nào?
- Về giao đất: Có 39 trường hợp được giao đất với diện tích 12,1 ha (gồm 8 tổ chức với 1,4 ha và 31 hộ gia đình, cá nhân với 10,7 ha).
- Về cho thuê đất: Không phát sinh trường hợp nào trong cả giai đoạn do trung tâm phát triển quỹ đất của huyện chưa phát triển.
- Về thu hồi đất: Tổng diện tích đất đã thu hồi là 400,639 ha nhằm phục vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật và trụ sở cơ quan, trong đó diện tích thu hồi lớn nhất thuộc nhóm đất nông nghiệp với 368,289 ha (chiếm 91,9%), đất phi nông nghiệp thu hồi 32,35 ha.
5. Tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đo đạc bản đồ chính quy của huyện Văn Quan đạt mức độ nào?
Sau khi hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính chính quy, Ủy ban nhân dân huyện Văn Quan đã triển khai cấp GCNQSDĐ trên địa bàn toàn bộ 24/24 xã, thị trấn. Kết quả lũy kế đến năm 2013 đã cấp được 46.220 thửa đất với tổng diện tích 19.077,87 ha. Khối lượng này mới đạt 51,44% tổng diện tích đất cần cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện, phần diện tích còn lại chủ yếu là đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng phân bố tại các địa bàn đồi núi hiểm trở.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Văn Anh đã cung cấp cái nhìn chi tiết và khách quan về thực trạng thực hiện 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2013. Công trình làm nổi bật những kết quả then chốt về việc hoàn thành 1.947 tờ bản đồ địa chính chính quy, triển khai giao đất, thu hồi 400,639 ha đất và cấp giấy chứng nhận cho hơn 19.000 ha đất đai trên địa bàn huyện. Đồng thời, nghiên cứu đã nhận diện chính xác các rào cản nội tại về nhân sự địa chính cấp xã, hồ sơ lưu trữ thủ công và tiến độ cấp giấy chứng nhận, làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp quản lý đất đai phù hợp cho địa phương trong giai đoạn tiếp theo.