mở đầu, tôi giới thiệu các ví dụ về hình ảnh giả mạo nổi tiếng trong lịch sử.1Bức ảnh giả Joseph Goebbels đã bị xóa bỏ ra khỏi bức ảnh so với ảnh gốc Năm 1937: Adolf Hitler đã loại JosephGoebbels ra khỏi bức ảnh.2Bức ảnh giả của tướng Grant được cắt ghép từ ba hình ảnh riêng biệt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Năm 1964:Một bứcảnh được làm giả với ngụ ý, tổng tư lệnh quân đội miền Nam- tướng Ulysses S. Grant đứng trước quân đội của mình tại thành phố Virginia trong cuộc nội chiến Mỹ. Công việc phát hiện sự giả mạo này được thực hiện bởi một nhóm nhà nghiên cứu tại thư viện quốc hội Mỹ, cho thấy ảnh in này được ghép từ ba bức ảnh riêng biệt. Bức ảnh thứ nhất được lấy từ chân dung của tướng Grant, thứ hai, lấy hình ảnh con ngựa và cơ thể của một vị tướng có tên là Alexander M.McCook và thứ ba, nền được lấy từ một bứ ảnh chụp những tù nhân miền Bắc bị bắt.3Bức ảnh giả chỉnh sửa nhằm tăng độ mạnh của thông tin chiến tranh Tháng 8/2006: một bức ảnh minh họa của hãng tin Reuters xuất hiện trên các trang báo lớn nhỏ trên khắp thế giới.
Nội dung của bức ảnh là những cột khói tỏa lên từ một số tòa nhà cao tầng sau một đợt không kích của không quân Isarel vào Beirut. Nhưng sau đó họ đã phát hiện ra một phần của bức ảnh đã bị người ta sao chép (copy), rồi dán lặp lại nhiều lần trong bức ảnh, nhằm làm tăng liều lượng khói. Bằng cách này hay cách, với mục đích này hay mục đích khác, người ta đã tạo ra rất nhiều bức ảnh giả mạo nhằm phục vụ các mục đích khác nhau. Nhiệm vụ của các nhà khoa học đó là làm thế nào để phát hiện ra các bức ảnh giả đó và chứng minh phương pháp phát hiện của mình là đúng đắn.
Một số phƣơng pháp giả mạo ảnh số thƣờng gặp Kỹ thuật giả mạo ảnh số không khác nhiều so với kỹ thuật giả mạo ảnh thông thường. Thay vì sử dụng các bức ảnh, thì kỹ thuật giả mạo ảnh số sử dụng các ảnh số lưu trên các thiết bị lưu trữ như thẻ nhớ máy ảnh, ổ cứng máy tính… Quá trình tạo ra hình ảnh giả mạo đã được đơn giản rất nhiều với sự phát triến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mạnh mẽ của các phần mềm chỉnh sửa hình ảnh, phần mềm đồ họa máy tính như Adobe Photoshop, GIMF, Paint Shop, Corel… Có rất nhiều cách để giả mạo một bức ảnh số. Dựa trên các kỹ thuật tạo ra một bức ảnh giả mạo, người ta có thể phân biệt thành ba nhóm chính: tút ảnh (Retouching),ghép ảnh (Splicing) và sao - chuyển vùng ảnh (Copy-Move). Tút ảnh (Retouching) Loại này có thể coi là ít nguy hiểm nhất trong các cách giả mạo ảnh số.
Hình ảnh bị chỉnh sửa không đáng kể, thay vào đó, nó tăng cường hoặc giảm các thuộc tính nhất định của một hình ảnh. Kỹ thuật này phổ biến đối với các biên tập viên ảnh của tạp chí. Có thể nói rằng hầu như tất cả các trang bìa tạp chí sẽ sử dụng kỹ thuật này để làm các bức ảnh của họ trở nên hấp dẫn hơn.4Hình ảnh ví dụ về ảnh bị làm giả bởi kỹ thuật tút ảnh (retouching) Hình ảnh bên trái là ảnh gốc, ảnh phía bên trái là kết quả của việc chỉnh sửa hình ảnh sử dụng phương pháp Retouching. Ghép ảnh (Splicing) là một kỹ thuật có liên quan đến việc một hỗn hợp gồm hai hay nhiều hình ảnh kết hợp tạo ra một bức ảnh giả mạo.
Trong hình ảnh dưới đây, hình ảnh chú cá mập được sao chép lên hình ảnh nền (máy bay trực thăng cứu hộ) tạo ra một bức ảnh giả hoàn hảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Hình ảnh ví dụ về ảnh bị làm giả bởi kỹ thuật cắt ghép (Splicing) 1. Sao - chuyển vùng ảnh (Copy-Move) Kỹ thuật sao - chuyển vùng ảnh về mức độ nguy hiểm tương tự như kỹ thuật ghép ảnh, theo cách nhìn cả hai kỹ thuật này đều làm thay đổi một vùng của ảnh gốc. Tuy nhiên, thay vì cần một hình ảnh bên ngoài như kỹ thuật ghép ảnh, kỹ thuật sao - chuyển vùng ảnh dùng chính vùng trên ảnh gốc để tạo ra bức ảnh giả.
Nói cách khác, nguồn và đích của đều bắt nguồn từ một hình ảnh. Trong một thao tác sao - chuyển vùng ảnh, một phần của ảnh sẽ được cắt và dán đến một vị trí mong muốn của bức ảnh. Điều này thường được thực hiện để che dấu một số chi tiết hoặc nhân bản một số đối tượng trên hình ảnh. Các kỹ thuật làm mờ thường được áp dụng dọc theo biên của khu vực sao - chuyển vùng ảnh để làm giảm hiệu ứng bất thường giữa khu vực gốc và khu vực được sao - chuyển vùng ảnh.
Hình ảnh dưới đây cho thấy một hình ảnh mẫu đã bị giả mạo bằng cách sử dụng sao - chuyển vùng ảnh. Bên trái là ảnh giả và bên phải là ảnh thật.6 Hình ảnh ví dụ về ảnh bị làm giả bởi kỹ thuật sao - chép vùng ảnh Trong khuôn khổ của đề tài, tôi tập trung nghiên cứu cách phát hiệnhai loại ảnh giả là sao - chuyển vùng ảnh và ghép ảnh, có mức độ nguy hiểm lớn vì nó làm sai lệch thông tin so với ảnh gốc. Còn loại ảnh tút ảnh (retouching) - loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 ảnh làm đẹp cho các tạp chí, các ảnh quảng cáo với mức độ nguy hiểm thấp, do không làm sai khác nhiều thông tin, sẽ chỉ được giới thiệu ở chương này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Chƣơng 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC KỸ THUẬT PHÁT HIỆN ẢNH SỐ GIẢ MẠO Hiện tại trên thế giới cũng có rất nhiều các nhóm nghiên cứu về nhận diện ảnh giả mạo cũng như phát triển các công cụ khác nhau để phát hiện ra ảnh bị làm giả.
Dựa vào các đặc trưng để nhận diện ảnh giả người ta cũng chia ra làm 5 loại [3]: 1) Pixel-Based: dựa vào các dặc trưng củacác điểm ảnh, mỗi liên hệ giữa ở cấp độ điểmảnh của ảnh. 2) Format-Based: dựa trên các đặc trưng của định dạng ảnh, dựa trên mối tương quan thống kê. 3)Camera-Based: dựa trên đặc điểm kỹ thuật của máy ảnh như cảm biến máy ảnh, ống kính hoặc trên chip xử lý máy ảnh. 4) Physically-Based: dựa trên các tính chất vật lý và mối tương tác giữa ánh sáng và máy ánh.
5) Geometric-Based: Dựa trên đặc trưng hình học của các đối tượng. Dựa trên đặc trưng điểm ảnh (Pixel Based) Trong tất cả các ngành khoa học, các đặc điểm đầu tiên được đưa ra phân tích và nhận dạng chính là các nhân tố nhỏ nhất tạo nên cấu trúc của sự vật, hiện tượng (Trong y học nhận dạng nhờ phân tích ADN, tế bào, trong địa chất nhận dạng các phần tử đất, trong hóa học nhận dạng các nguyên tử, phân tử…. Trong lĩnh vực xử lý ảnh, các cấu trúc nhỏ nhất đó chính là các điểm ảnh. Người ta nghiên cứu mối tương quan giữa các điểm ảnh để tìm dấu hiệu của sự giả mạo ảnh kỹ thuật số.Nhân bản (Cloning) Một trong những thao tác cơ bản nhất của việc tạo ra một bức ảnh giả đó là sao - chuyển vùng ảnh(copy-move), một phần hình ảnh sẽ được che giấu bởi một người hoặc một đối tượng trong cảnh.
Các thao tác sao - chuyển vùng ảnh được thực hiện trên cùng một bức ảnh nên nó sẽ xuất hiện các vùng giống nhau trên bức ảnh giả, các khu vực này chính là bằng chứng của giả mạo. Ta có thể dễ dàng tìm kiếm hai khu vực giống hệt nhau trong hình ảnh bằng cách so sánh các giá trị của điểm ảnh hoặc các khối ảnh với nhau. Tuy nhiên, nếu vùng nhân bản đó bị thay đổi kích thước hay màu sắc, hay bị nén JPEG, nó sẽ gây ra sự khó khăn trong việc so sánh để tìm ra các vùng nhân bản. Hiện nay, có hai phương pháp chính nghiên cứu để phát hiện ra các vùng nhân bản của ảnh giả dạng sao - chuyển vùng ảnh.
Thứ nhất đó là phương pháp dựa trên thuật toán dãy biến đổi cosin rời rạc (DCT). Khu vực nhân bản sẽ được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 phát hiện bởi từ điển phân loại khối hệ số DCT và nhóm các khối tương tự. Thứ hai đó là phương pháp dựa trên việc phân tích thành phần chính (PCA), việc sử dụng PCA nhằm xác định các vector cơ sở và tìm khu vực trùng lặp phát hiện bởi từ điển phân loại khối vector cơ sở và nhóm các khối tương tự. Lấy mẫu lại (Re-sampling) Để tạo ra một bức ảnh thuyết phục, người ta có thể phải thay đổi kích thước, xoay ảnh hoặc kéo dài các phần của hình ảnh.
Quá trình này yêu cầu lấy mẫu lại (re-sampling) vào một lưới mẫu mới. Mặc dù việc lấy mẫu lại bình thường không dễ nhận thấy, nhưng nó có mối tương quan đặc biệt với hình ảnh, khi phát hiện nó có thể được sử dụng làm bằng chứng của sự giả mạo. Xét ví dụ đơn giản với tín hiệu một chiều x(n) có độ dài là M. Lấy mẫu lại tín hiệu này để có tín hiệu mới là y(n) có độ dài 2M.
Các mẫu lẻ của tín hiệu được lấy mẫu lại bằng giá trị của tín hiệu ban đầu: y(2i-1)= x(i), i=1,… 𝑀 ,. Các mẫu chẵn sẽ là trung bình của các tín hiệu liền kề.2) 2 2 Ta thấytrong tín hiệu được lấy mẫu lại y(n), mỗi giá trị là sự kết hợp tuyến tính của hai giá trị lân cận. Trong trường hợp đơn giản này, một tín hiệu lấy mẫu lại có thể được phát hiện bởi tất cả các giá trị mẫu đều có sự tương quan với các giá trị lân cận chúng và tương quan đó xuất hiện theo chu kỳ. Thuật toán kỳ vọng cực đại (EM) có thể được sử dụng để tìm sự tương quan.
Thuật toán EM bao gồm hai bước lặp: 1) Bước kỳ vọng: Tính xác suất ước lượng các điểm ảnh có thể tương quan với các điểm lân cận. 2) Bước cực đại: Các dạng cụ thể của các mối tương quan giữa các điểm ảnh được ước tính. Giả sử có một mô hình nội suy tuyến tính, bước kỳ vọng làm giảm ước lượng Bayesian và bước cực đại làm giảm trọng số các khoảng ước lượng. Xác suất ước tính sau đó được sử dụng để xác định nếu một phần của hình ảnh đã được lấy mẫu lại.
Ghép (Splicing) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Một hình thức phổ biến của việc giả mạo ảnh số đó là ghép hai hoặc nhiều ảnh vào với nhau.