Chương 1: Dat vấn dé Chương này trình bày về lý do, ý nghĩa, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Đây là chương trình bày về cơ sở lý luận cũng như hệ thống các phương pháp nghiên cứu để rút ra các kết quả, kết luận trong đề tài. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu chung về vùng nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, dân cư.), về các đối tương nghiên cứu trong đề tài (cây cà phê Arabica.) Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Gồm các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài đó la các phân tích, đánh giá điểm mạnh, yéu.; các yếu tố ảnh hưởng đến kết qua sản xuất từ đó đánh giá khả năng phát triển bền vững cây cà phê Arabica trên địa bàn nghiên cứu và đưa ra một số đề xuất thích hợp Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này bao gồm các kết luận rút ra được sau quá trình phân tích nghiên cứu và thảo luận cùng các kiến nghị cụ thể cho chính quyền địa phương và nông dân. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Sơ lược nguồn gốc hình thành và phát triển cây cà phê + Trên thế giới: Nguồn gốc của cây cà phê là mọc hoang đại trong các cánh rừng ở Ethiôpia và ving Arabica Feli (Yémen), châu Phi. Trong nhiều tài liệu xuất bản viết rằng: ở gần một tu viện có những người chăn dê bên sườn núi, khi quan sát về ban đêm bầy dê ít ngủ, hiếu động nhảy nhót. Điều này khiến họ theo dõi và phát hiện răng ở trong rừng có một loại cây mà đê đã ăn lá của loài cây này. Sau đó họ hái lá đem về, thu cá quả đem luộc rang rồi nướng, nấu nước uống.
Khi uống loại nước này con người cảm thấy sảng khoái tỉnh táo và người ta đã sử dụng nó để làm nước uống cho các tín đồ đạo thiên chúa để làm lễ ở nhà thờ và làm nước uống cho các hành trình vượt sa mạc. Cây cà phê chè được trồng có hệ thống đầu tiên vào khoảng thế kỷ 15 tại các khu vườn miền Nam Yêmen. Từ giữa thế kỷ 17 người Ai cập mắt vị trí độc tôn trong việc trồng cà phê chè và cà phê chè đã lan rộng trên khắp thế giới. Hiện nay cà phê chè được trồng hầu hết tại các vùng 230° vĩ Bắc và 250° vĩ Nam, tại các vùng có điều kiện phù hợp như châu Mỹ, châu Phi, châu Á, châu Đại Dương.
Cà phê chè được trồng tập trung chủ yếu tại Braxin, Côlômbia, Mêhicô và các nước Trung Phi. + Tại Việt Nam: Cây cà phê Arabica của Việt Nam được người Pháp du nhập vào từ những năm đầu của thế kỷ 20, tồn tại và phát triển hơn 100 năm nay. Theo nhiều tài liệu ghi chép, vùng trồng cà phê lớn nhất là Phủ Quỳ-Nghệ An, sau đó đến Sơn La- Lai Châu và Đà Lạt-Lâm Đồng. Cây cà phê Arabica có mặt tại Việt Nam trước cả cây cà phê vối Robusta.
Giống Arabica đầu tiên là Catura do Cuba tặng. Do giống này hay có sâu bệnh nên năng suất, diện tích trồng không ổn định. Đến những năm 1990 trở lại đây, bà con nông dan trồng giống cà phê Catimor. Giống Catimor giải quyết được một số yếu tố như giảm sâu bệnh, cho năng suất cao và én định từ đó diện tích trồng Arabica mới được phát triển nhiều và mở rộng trồng những giống ngoài Catimor.
Nhưng với ưu điểm của minh cây cà phê Catimor vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong điện tích trồng Arabica trên toàn quốc. Đặc điểm sinh vật học và tác động của cà phê đồi với sức khoẻ 2. Đặc điểm sinh vật học của cây cà phê chè Cây cà phê thuộc họ thực vật Rubiazeen. Họ này có khoảng 500 loài với hơn 6000 loại.
Trong đó có 2 chủng cà phê có ý nghĩa là Arabica (cà phê chè) và Canephora (hay còn gọi là cà phê vối). Cây cà phê Arabica cao khoảng 2-3m. Cành dài đạng roi, lá có cọng ngắn, lá có màu xanh, hình ovan. Lá bóng nhẫn, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới sáng hơn mặt trên.
Lá dày từ 8-15cm, rộng 4-6cm. - Rễ cây là rễ trụ, ăn sâu trong lòng đất từ 1-2,5 m và có nhiều rễ nhỏ lan trên mặt đất để hút dinh đưỡng. Chính đặc điểm này giúp cây cà phê chè trở thành một cây chịu hạn rất tốt. - Hoa cà phê chè: Có 5 cánh màu trắng, có hương thơm, mọc ra từ ké lá và nở trong thời gian ngắn, chi thụ phan được trong vai giờ đồng hồ.
Cây cà phê chè Arabica là cây tự thụ phấn. - Hạt cà phê: Quả cà phê chín có vỏ màu vàng hoặc màu đỏ bao quanh bởi lớp thịt mềm màu vàng nhạt, có chứa đường. Bên trong lớp thịt có 2 nhân thường được gọi là hạt cà phê. Chúng úp hai mặt phẳng phía trong vào nhau, quay phần hình cung ra ngoài.
Mỗi hạt được bảo vệ bởi 1 lớp vỏ, dính chặt, có màu ánh bạc gọi là vỏ lụa. Cả hai hạt cà phê mỗi hạt còn được bao quanh bởi lớp vỏ cứng dày gọi là vỏ thóc. Cà phê và sức khoẻ Ở Việt Nam, uống trà là một nét văn hoá truyền thống lâu đời, việc truyền bá văn hoá cà phê vào Việt Nam không tránh khỏi khó khăn. Trở ngại lớn nhất là tâm lý hoài nghỉ về những tác dụng độc hại có thể có với sức khoẻ người sử dụng cà phê.
Cà phê và sức khoẻ từ hàng thế kỷ qua là đề tài gây nhiều tranh cãi. Rất nhiều người đánh giá cao giá trị ưu việt của một tách cà phê mỗi buổi sáng, nó cung cấp nhiên liệu cho suy nghĩ, sáng tạo và năng suất làm việc cả ngày. Những người khác lại cho rang uống cà phê có ảnh hưởng đến sức khoẻ. Đến những thập kỷ gần đây các nghiên cứu khoa học chuyên sâu đã được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng thực sự của cà phê đối với sức khoẻ và hành vi con người.
Đề tài không nhằm mục đích thảo luận về tác động của cà phê đối với sức. khoẻ con người, chỉ xin nêu ra một số nhận định về ảnh hưởng của việc uống cà phê theo tài liệu " Cà phê và sức khoẻ" của công ty Kraft Foods của CHLB Đức hỗ trợ nghiên cứu và xuất bản: " Với nhiều người ngày mới không thể bắt đầu nếu thiếu một ly cà phê. Chúng ta biết rằng cà phê giúp tăng cường sự linh hoạt, minh mẫn của đầu óc. Hơn thế nữa, nó có thể giúp tăng cường sức đề kháng chống lại quá trình lão hoá và sự hình thành phát triển một số bệnh như bệnh gan, viêm túi mật, sỏi mật.
Trong thói quen suy nghĩ của rất nhiều người, uống cà phê có thể dẫn tới tăng Cholesterol trong máu, tăng huyết áp hay gây ra bệnh về tim mạch. Điều này không hoàn toàn đúng. Bởi ở những người có bệnh này khi nghiên cứu các nhà khoa học đã chỉ ra rằng bệnh tình của họ không chỉ liên quan tới việc uống cà phê và còn chế độ ăn uống, sinh hoạt. Các yếu tố này nhất thiết phái được tính đến khi xem xét mức độ ảnh hưởng của cà phê đối với sức khoẻ.
Thực tế thì rất khó kiểm soát được các yếu tố liên quan khi phân tích các kết luận khoa học và do đó chúng có thể làm cho các kết luận về mức độ tác động của cà phê có thể làkhông chính xác". Theo báo Tuổi trẻ, ngày 9/5/2006 đã trích đăng một kết luận rằng việc uống cà phê đều đặn và hợp lý có thể ngăn ngừa bệnh Parkinson (bệnh rối loạn do hiện pvc. Sate tượng suy thoái thần kinh dẫn đến các cử động diễn ra một cách chậm chap, cứng nhắc và run ray, thường xảy ra ở những người lớn hơn 55 tuổi ). Nghiên cứu so sánh giữa những người không uống cà phê và những người dùng cà phê hang ngày cho kết luận những người sử dụng cà phê thì tỉ lệ mắc bệnh Parkison càng ít.
Nguy cơ mắc bệnh Parkison ở những người không uống cà phê cao gap 5,1 lần so với những người uống 900ml cà phê hoặc nhiều hơn mỗi ngày. Cuối cùng xin trích dẫn câu nói của Paracelse người Thuy Sỹ được trường ‘Dai hoc Hamburg (Đức) dan trong bai phat biểu tại hội nghị ASIC (hội nghị khoa học quốc tế về cà phê): " Tất cả là thuốc độc. Không có gì là không độc cả. Chỉ có liều lượng là cái có thể khiến mọi cái không còn là thuốc độc.
Yéu cầu sinh thái cây cà phê chè 2. Vêu cầu về nhiệt độ Đây là một trong những yếu tô khí hậu có ý nghĩa hàng đầu trong việc xác định vùng trồng cà phê chè cũng như xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác _ nhằm hạn chế su tác hại bất lợi đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Cây cà phê chè có thể sinh trưởng và phát triển được ở nhiệt độ từ St 2y tà Nhưng phạm vi nhiệt độ thích hợp là 18-24°C và thích hợp nhát là 22-24°C. Dưới 5°C cây ngừng sinh trưởng và lớn hơn 32°C cây ngưng quá trình quang hợp.
Nhìn chung cây cà phê chè phù hợp với điều kiện mát mé và có biên độ nhiệt ngày đêm lớn để tạo chất lượng cao. Ở những nơi có nhiệt độ quá thấp cây sẽ không sinh trưởng và phát triển được. Ngược lại ở những nơi nhiệt độ quá cao cây phát dục sớm dễ gây ra kiệt sức, khô cành, khô quả và hiện tượng hoa sao không đậu quá được, chất lượng hạt kém. Chế độ ánh sáng Nguồn gốc của cây cà phê chè là sinh sống hoang dại ở đưới các tán rừng thưa vùng Tây Nam Ethiopia.
Cây ưa với anh sáng tán xạ. Do vậy cây cà phê chè khi trồng rất cần cây che bóng. Ánh sáng trực tiếp sẽ làm cho quá trình quang hợp của cây bị cản trở, mặt khác nếu kết hợp với nhiệt độ cao sẽ kích thích cây phân hoá mầm hoa quá mức làm cây suy kiệt dẫn đến hiện tượng khô cành, khô quả và chết. Chế độ mưa và âm độ không khí Cây cà phê đòi hỏi lượng mưa trung bình từ 1500-2000 mm và phân bố tương đối đồng đều trong năm.
Tuy nhiên để cho cây cà phê chè có khả năng phân hoá được mam hoa và ra hoa tập trung cây đòi hỏi phải có một thời gian khô hạn từ 2-3 tháng vào giai đoạn sau khi thu hoạch. Ở những nơi không có mùa khô hạn cây cà phê chè thường ra hoa làm nhiều đợt trong năm và không tập trung gây khó khăn cho việc thu hoạch và năng suất không cao.