Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU NGÀNH CÔNG NGHIỆP SƠ CHẾ MỦ CAO SU 1. Lịch sử cây cao su và tình hình phát triển 1. Giới thiệu Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ cao T 04 T 04 lớn thuộc chi Hevea, họ Đại kích (Euphorbiaceae).
Thân cây cao su cấu tạo bởi 4 lớp. Lớp mộc thiêm còn gọi là lớp da me là lớp ngoài cùng của vỏ gồm các tế bào chết nên thường cứng, xù xì. Đây là lớp bảo vệ cho các lớp bên trong. Lớp trung bì còn gọi là da cát, có thể phân biệt thành 2 lớp: lớp ngoài là da cát thô có nhiều tế bào đá, lớp trong là da cát nhuyễn, số tế bào đá ít và nhỏ hơn lớp ngoài, có chứa một ít ống mủ, tuy nhiên các ống mủ này ít hoạt động nên lớp vỏ này chứa rất ít mủ.
Lớp nội bì: còn gọi là da lụa, cấu tạo bởi các tế bào libe (ống sàng và sợi libe), các hệ thống ống mủ rất ít tế bào đá, đặc điểm của lớp nội bì là chứa nhiều ống mủ, và các ống mủ sắp xếp với nhau thành từng hàng, càng sát tượng tầng số lượng mủ càng nhiều. Còn lại là lớp gỗ cứng trong cùng. Chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ - latex) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su thiên nhiên [19]. Cây cao su có thể cao tới trên 30m.
Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ. Các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ.
Quá trình này gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm [16]. Trên thế giới Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào Nguyễn Thị Dung [10] Khảo sát nhà máy chế biến mủ cao su LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CNSH 2010B quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè.
Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (Cao là gỗ, Uchouk là chảy ra hay khóc). Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ khai thác nguyên liệu trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil. Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew.
Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi trong các thùng Ward tới Ceylon, và 22 đã được gửi tới các vườn thực vật tại Singapore. Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh.
Các cây cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883. Vào năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaya, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới [16]. Hiện nay trên thế giới đang có hơn 7 triệu ha đất khai thác mủ cao su, trong đó tập trung vào các quốc gia thuộc Hiệp hội các nước sản xuất cao su (ANRPC). Hàng năm, ANRPC đóng góp khoảng 92-94% sản lượng cao su toàn thế giới.
Trong đó đứng đầu là Thai Lan, kế tiếp Indonesia, Malaisia,…Tuy nhiên, dẫn đầu về năng suất khai thác là Ấn Độ với 1771 kg/ha, kế tiếp là Thái Lan ở mức 1717 kg/ha [1]. Nguyễn Thị Dung [11] Khảo sát nhà máy chế biến mủ cao su LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CNSH 2010B Hình 1.1: Biểu đồ diện tích trồng cây cao su của các nước thành viên ARNPC [1] Với lợi thế là nước có diện tích trồng cao su lớn nhất (hình 1.1) và năng suất khai thác thuộc loại cao, Thái Lan luôn là nước dẫn đầu thế giới về nguồn cung cao su. Năm 2010, tỷ trọng đóng góp sản lượng cao su thế giới từ Thai Lan đạt 32,7%, kế tiếp đó là Indonesia với tỷ trọng 25,3%, Malaisia chiếm 8,9% (hình 1.2: Tỷ trọng sản lượng cao su từ các nước trên thế giới năm 2010 [1] 1. Việt Nam Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống.
Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Nguyễn Thị Dung [12] Khảo sát nhà máy chế biến mủ cao su LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CNSH 2010B Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km) [16]. Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907.
Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ. Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3. Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960-1962, trên những vùng đất cao 400÷600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh [16].
Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ). Trong những năm 1958-1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3. Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ.
Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 do các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh. Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%.
Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464. Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ là 339.000 ha, Tây Nguyên 113. Năm 2009 tổng diện tích cây cao su đạt 674.700 ha (13,5%) so với năm 2008 trong đó diện tích cho khai Nguyễn Thị Dung [13] Khảo sát nhà máy chế biến mủ cao su LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CNSH 2010B thác là 421.600 ha (chiếm 62,5% tổng diện tích) với sản lượng đạt 723.700 tấn, tăng 9,7% so với năm 2008 [16]. Năm 2010, Việt Nam được xếp là nước đứng thứ 5 thế giới về sản xuất cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.
Sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam đóng góp 7,3% tổng sản lượng cao su thế giới với 6,6% tỷ trọng về diện tích trồng cây cao su. Tổng diện tích trồng cây cao su là 740.000 ha và sản lượng cao su đạt 754.500 tấn, năng suất bình quân 1.1: Diện tích, sản lượng, năng suất các khu vực trồng cao su ở Việt Nam năm 2010 [2] Diện tích trồng Diện tích khai thác Sản lượng Năng suất Vùng (ha) (ha) (tấn) (kg/ha) Đông Nam Bộ 466.434 Duyên hải miền 57.274 trung Bắc Bộ 16. Đặc điểm nguyên liệu mủ cao su thiên nhiên và ứng dụng 1. Thành phần và cấu trúc mủ nước Thành phần mủ nước: Mủ chảy ra từ cây cao su khi cạo gọi là mủ nước (latex) là một chất lỏng màu trắng sữa hay hơi vàng.
Nó là huyền phù thể keo gồm những hạt cao su rất nhỏ lơ lửng trong một dung dịch mà phần lớn là nước. Các hạt cao su có dạng hình cầu. Thành phần cơ bản của mủ nước như bảng sau. Nguyễn Thị Dung [14] Khảo sát nhà máy chế biến mủ cao su LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CNSH 2010B Bảng 1.2: Thành phần mủ nước [9] Thành phần Phần trăm (khối lượng) Nước 50-60 Cao su nguyên chất 27-40 Protein Khoảng 2,0 Lipid 0,2-0,7 Glycerin 0,5-1,0 Độ pH của mủ nước: pH = 6,6 – 7 Thành phần các chất trên thay đổi theo giống cây, tuổi cây, tình trạng chăm sóc, khí hậu, thổ nhưỡng… Cấu trúc mủ nước: Về cấu trúc của latex gồm có hai phần cơ bản: phần lỏng và phần rắn.
Phần lỏng chủ yếu là nước, một số hóa chất hòa tan trong nước được gọi là serum. Phần rắn bao gồm những hạt cao su nguyên chất, các hóa chất không tan trong nước cấu thành hạt huyền phù lơ lửng trong serum. Các hạt huyền phù được cấu tạo gồm hai lớp: lớp bên trong gồm cao su nguyên chất, lớp bên ngoài gồm các protid, lipid… làm cho các hạt này không dính vào nhau và lơ lửng trong serum. Khi lớp ngoài này bị phá hủy thì gây nên hiện tượng đông tụ.
Tỉ trọng của mủ nước trong khoảng 0. Tỉ trọng của cao su 0.914 g/ml, tỉ trọng của serum 1,02 g/ml [9]. Phân biệt cao su thiên nhiên với cao su nhân tạo Cao su thiên nhiên là một chất cao phân tử (polimer) có trong latex của cây cao su (Hevea). Chất hóa học ban đầu (monomer) cấu tạo nên cao su đó là izopren có công thức phân tử C5 H8.
Các phân tử izopren kết nối với nhau tạo thành một R R R R chuỗi dài.