chương I thông tư 22 02/2013TT – NHNN có quy định nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5, trong đó điều 11 mục 1 chương II có quy định rõ: – Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) được hiểu là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. – Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. – Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là đã mất vốn và không còn khả năng thu hồi.
Cũng theo thông tư 02, nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Như vậy nếu khách hàng phát sinh nợ nhóm 2 vẫn được hiểu là khách hàng còn khả năng trả nợ, dù khả năng trả nợ bị suy yếu trước mắt. Để thống nhất cách hiểu trong toàn bộ luận văn, học viên thống nhất việc đánh giá “khả năng trả nợ” của khách hàng sẽ được đánh giá thông qua nhóm nợ cao nhất tại các TCTD khách hàng có quan hệ tín dụng. Những khách hàng hiện đang có nợ nhóm 3, 4, 5 được hiểu là nhóm khách hàng không có khả năng trả nợ, những trường hợp còn lại được hiểu là khách hàng có khả năng trả nợ.
Cáchình thức tín dụngcá nhân Tại các nước phát triển mà cụ thể là nước Mỹ, các hình thức cho vay đa dạng hơn do sự phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng (Nguyễn Ngọc Lê Ca 2011). Một số các hình thức cho vay có thể liệt kê như cho vay ngắn hạn, cho vay theo ngày, cho vay đối tượng quân nhân, cho vay đối với cá nhân không có/có ít lịch sử giao dịch, cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, phát hành thẻ tín dụng. 23 Tại Việt Nam các hình thức cho vay cá nhân tại NHTM được khái quát như sau: - Cho vay bổ sung vốn lưu động: là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp. - Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng trong đó ngân hàng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trong một giới hạn nhất định, giới hạn này được gọi là hạn mức tín dụng thấu chi. - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Một số nghiên cứu thực nghiệm trước về khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân thường tập trung vào rủi ro trả nợ đúng hạn hay là khả năng trả nợ vay. Có rất nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau đã được các tác giả sử dụng trước đó.
Chapman (1990) đã đưa ra một phân tích thống kê về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân. Thông tin trên dựa vào những dữ liệu thu thập được từ 2.765 hồ sơ vay với sự hợp tác của 21 ngân hàng lớn thuộc 16 thành phố của 11 bang nước Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố như độ tuổi, quy mô hộ gia đình, đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập có mối tương quan thuận với khả năng trả nợ của khách hàng. Ngược lại, một số yếu tố khác như thời hạn vay, kích thước khoản vay lại tồn tại mối tương quan nghịch chiều.
Kết quả thống kê cũng rút ra kết luận: đối với yếu tố giới tính của người đi vay thì nữ giới lại ít tạo ra rủi ro tín dụng hơn là nam giới. 24 Roslan và Karim (2009) trong bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các chương trình tín dụng vi mô ở Malaysia để khám phá ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các đối tượng tín dụng vi mô trong trường hợp Agrobank, các tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 2.630 khách hàng vay được thu thập trong giai đoạn từ tháng 06 đến tháng 08 năm 2007 từ 86 chi nhánh của Agrobank trải khắp đất nước Malaysia. Các tác giả đã sử dụng mô hình Probit và Logit để xác định những nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng chi trả. Các nhân tố này được chia làm 3 nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm các nhân tố liên quan đặc điểm/đặc trưng của bên đi vay, nhóm nhân tố thứ hai liên quan đến dự án/kế hoạch kinh doanh của khách hàng vay và nhóm nhân tố thứ ba liên quan đến bản thân khoản vay.
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến giới tính có ý nghĩa thống kê, tỷ lệ nợ quá hạn đối với những người vay là nam giới cao hơn so với nữ giới (trong khi đó nghiên cứu của Bhatt,N và Sui-Yang Tan vào năm 2002 không tìm thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ liên quan đến vấn đề nợ quá hạn). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người vay hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ/hỗ trợ ít rủi ro hơn đối với những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Việc người đi vay được đào tạo bài bản về chuyên môn đối với công việc đang làm sẽ ít rủi ro hơn so với những người lao động không được đào tạo, từ đó khả năng trả nợ cũng được những cải thiện. Quy mô khoản vay có ý nghĩa tích cực đối với khả năng chi trả của khách hàng, quy mô khoản vay càng lớn tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp, thông qua cuộc khảo sát, các tác giả nhận thấy phần lớn giá trị khoản vay không đáp ứng đủ nhu cầu, điều này làm tăng rủi ro đối với những khoản vay nhỏ (kết quả này đối ngược với kết quả nghiên cứu của Sharma và Zellar về chương trình tín dụng nhóm ở Bangladesh nhưng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Jimenez và Saurina vào năm 2004).
Thời hạn cho vay cũng có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê, thời gian cho vay càng dài tỷ lệ nợ quá hạn càng cao. Kết quả ước lượng từ mô hình Probit phù hợp với những gì thu được từ mô hình Logit. Antwi và ctg (2012) tìm hiểu về những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro mất khả năng hoàn trả nợ vay tại Ghana: trường hợp nghiên cứu của ngân hàng Akuapem thông qua mô hình hồi quy Logit. Nghiên cứu này đã đưa ra một mô hình nghiên cứu gồm 25 6nhân tố như: loại hình cho vay, lãi suất vay, khoản vay có tài sản đảm bảo, tình trạng hôn nhân, nơi sinh sống và giới tính.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro không trả được nợ của khách hàng tại Ngân hàng Akuapem. Cơ sở dữ liệu để tiến hành phân tích gồm 800 mẫu được quan sát từ 2006 đến 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy: ngân hàng cần chú trọng vào nhân tố loại hình cho vay và khoản vay có tài sản đảm bảo để góp phần giảm bớt rủi ro vì đây là hai nhân tố được đánh giá có ảnh hưởng nhiều đến khả năng trả nợ vay của khách hàng. Vương Quân Hoàng và ctg (2006) trong việc xây dựng mô hình định mức tín nhiệm khách hàng thể nhân nhóm tác giả sử dụng mẫu gồm 1.727 khách hàng quan hệ với ngân hàng Techcombank, nhóm khách hàng được chia làm 2 nhóm bao gồm 1.375 khách hàng “tốt” và 353 khách hàng “xấu”.
Mô hình hồi quy Logit được sử dụng để kiểm định bao gồm 16 biến: tuổi tác, trình độ học vấn, loại hình công việc, thời gian công tác, thu nhập hàng tháng, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, thời gian cư trú, số người phụ thuộc, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin, chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản khách hàng, giá trị các khoản nợ, quan hệ với Techcombank và uy tín trong giao dịch. Căn cứ vào kết quả chạy mô hình tác giả đã loại 2 biến thời gian công tác và uy tín trong giao dịch vì có sự phụ thuộc tuyến tính vào các biến khác và hệ số beta tỏ ra không ổn định. Trong 14 biến còn lại biến thu nhập hàng tháng, chênh lệch thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản của khách hàng có tác động tích cực đến khả năng trả nợ của khách hàng, 11 biến còn lại có tác động trái chiều đến biến phụ thuộc. Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011) đã sử dụng mẫu gồm 436 nông hộ ở tỉnh Hậu Giang.
Bài viết sử dụng mô hình Probit để kiểm định 7 biến số, bao gồm: mục đích sử dụng vốn vay, thu nhập sau khi vay, lãi suất vay, tuổi của người đi vay, ngành nghề chính tạo ra thu nhập của nông hộ, số thành viên có thu nhập trong nông hộ và trình độ học vấn của chủ hộ. Kết quả chạy mô hình cho thấy thu nhập sau khi vay và số thành viên trong gia đình có thu nhập có mối tương quan thuận với khả năng trả nợ đúng hạn của các nông hộ. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng những nông hộ có thu nhập trả nợ từ sản xuất nông nghiệp sẽ có khả năng thanh toán đúng hạn cao hơn so với những nông hộ có nguồn thu nhập từ các hoạt động khác. Cuối 26 cùng kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ càng cao.
Theo Crook (2001) trong nghiên cứu về “Nhu cầu vay nợ của các hộ gia đình tại Mỹ: bằng chứng thực nghiệm từ cuộc khảo sát 1995 về tín dụng tiêu dùng” nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tín dụng đối với những hộ gia đình và những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay nợ của các hộ gia đình. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Probit, mẫu nghiên cứu bao gồm 4.299 hộ gia đình.