Đặt vấn đề nghiên cứu. Cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt là một trong những nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo ổn định và phát triển của xã hội. Thời gian qua, Bến Tre đã có sự quan tâm trong việc định hướng, triển khai đầu tư xây dựng các dự án về sản xuất, cung cấp nước sạch cho người dân.Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa caokhu vực. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh còn thấp, chất lượng nước không đồng đều giữa các đơn vị cung cấp, giữa các tháng trong năm, còn bị động trong ứng phó với xâm nhập mặn.
Nguồn cấp, hệ thống phân phối nước còn nhỏ lẻ, cục bộ chưa kết nối mang tính bền vững, một số khu vực bị chồng lấn về phạm vi cấp nước. HVTH: Nguyễn Trọng Nguyễn Trang 2 GVHD1: TS. Phạm Hải Chiến GVHD2: PGS. Lương Đức Long Tình hình hạn mặn diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho việc đảm bảo an toàn cấp nước trong mùa khô.
Việc dự báo và đánh giá tình hình còn hạn chế; khả năng ứng phó còn bị động. Hệ thống thủy lợi vẫn chưa hoàn chỉnh. Chưa chủ động được nguồn nước thô đảm bảo chất lượng trong mùa khô, từ đó dẫn đến chất lượng nước sạch cung cấp cũng chưa đảm bảo.Việc đầu tư cơ sở hạ tầng cấp nước theo định hướng quy hoạch chưa đảm bảo do hạn chế nguồn lực. Hệ thống cấp nước trong các đô thị khi lập và thực thi các dự án mới chỉ có tính cục bộ cho từng đô thị và khu vực ven đô thị, hoặc chỉ liên kết từ 02 đơn vị hành chính, chưa hình thành công trình cấp nước vùng hay khu vực lớn.
Cơ sở để tập hợp nguồn vốn và năng lực xây dựng các hệ thống cấp nước có quy mô lớn để cung cấp nước sinh hoạt phục vụ liên kết các đô thị, không bị giới hạn ranh giới hành chánh còn hạn chế về mặt quản lý. Các nhân tố văn hóa xã hội, điều kiện tự nhiên, trình độ khoa học công nghệ (KHCN) và kinh tế tạo thành môi trường tác động trực tiếp và quyết định đến sự bền vững của mô hình quản lý. Sựtồn tại của từng mô hình quản lý cấp nước tập trung còn ảnh hưởng do sự tương tác qua lại với các bên liên quan. Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước về tính bền vững của các dự án hạ tầng cấp nước đã được thực hiện trước đây [2], [3],[4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [16], [17], [18].Tuy nhiên, về cơ bản tính bền vững của các dự án cấp nước bao gồm các tiêu chí sau: - Phát triển nền vững về nguồn nước: Đảm bảo nguồn nước không bị khai thác quá mức và được tái tạo một cách tự nhiên.
- Bền vững của công trình: Đảm bảo công trình được vận hành, tuổi thọ lâu dài, bảo dưỡng, cung cấp nước đạt tiêu chuẩn. - Có sự tham gia từ cộng đồng: Cộng đồng tham gia vào lập kế hoạch, thiết kế và cùng quản lý vận hành công trình hệ thống. - Bền vững về công nghệ: Lựa chọn công nghệ phù hợp, bảo đảm năng lực cung cấp dịch vụ và được cộng đồng chấp nhận. HVTH: Nguyễn Trọng Nguyễn Trang 3 GVHD1: TS.
Phạm Hải Chiến GVHD2: PGS. Lương Đức Long - Bền vững về kinh tế tài chính:Đáp ứng chi phí kế hoạch, đặc biệt là chi phí vận hành, quản lý và bảo trì công trình. - Bền vững về tổ chức: Bộ phận quản lý phải đủ năng lực và được hỗ trợ về xây dựng, trợ giúp kỹ thuật và hệ thống pháp lý. Bến Tre đang thu hút khá nhiều dự án lớn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ …, trong đó các dự án về đầu tư xây dựng hệ thống HTCN trong tỉnh luôn được quan tâm sâu sátnhằm góp phần phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ tầng, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, nâng cao đời sống của người dân, đóng góp mạnh mẽ vào việc phát triển KT-XH của tỉnh và quá trình CNH-HĐH đất nước.
Chủ trương của Chính phủ về tăng cường xã hội hóa ngành nước đã thu hút được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tích cực tham gia đầu tư xây dựng và vận hành công trình cấp nước tại hầu hết các địa phương trong cả nước. Việc quan tâm đầu tư phát triển cấp nước của các doanh nghiệp trong lĩnh vực cấp nước đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước, bảo vệ sức khỏe người dân và góp phần phát triển KT-XH. Hiện nay, các nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động cấp nước đang từng bước đầu tư xây dựng và triển khaithực hiện mô hình cấp nước bền vững, an toàn; tổ chức sắp xếp, cải tạo quy trình quản lý cấp nước. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và cấp nước nói riêng trên địa bàn tỉnh Bến Tre vẫncòn một số hạn chế tồn tại trong quản lý và sử dụng nguồn vốn dẫn đến tình trạng lãng phí trong đầu tư xây dựng.
Còn không ít dự án đầu tư có hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được sự phát triển KT-XH của tỉnh, nhiều quyết định đầu tư chưa hợp lý với nhu cầu, dẫn đến kết quả nhiều dự án đầu tư xây dựng xong không sử dụng được hoặc khai thác chưa hiệu quả. Việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng chỉ dựa vào các yếu tố định tính về mặt nhu cầu xã hội, lựa chọn dự án có tổng mức đầu tư thấp, dựa trên ý kiến chủ quan của người ra quyết định đầu tư dễ dẫn đến sai lầm, thiếu cơ sở khoa học. Trong khoa học quản lý, việc ra quyết định khi có nhiều tiêu chí là một vấn đề rất phức tạp, nhiều tác giả đã đề xuất một số phương pháp định lượng trong việc hỗ trợ ra quyết định đa tiêu chí và đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực. Việc ra quyết định lựa chọn đầu tư hiệu quả, khả thi và hợp lý khi áp lực về hạn chế nguồn vốn HVTH: Nguyễn Trọng Nguyễn Trang 4 GVHD1: TS.
Phạm Hải Chiến GVHD2: PGS. Lương Đức Long đầu tư, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế là một vấn đề khó. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất một mô hình hỗ trợ ra quyết định phù hợp, đảm bảo tính ổn định bền vững theo điều kiện thực tế của tỉnh là thật sự cần thiết cho các nhà quản lý. Để có quyết định đầu tư dự án cấp nước trên địa bàn tỉnh cần phải được xem xét đánh giá trên nhiều tiêu chí đểnâng cao được tính chính xác toàn diện, phải xác định được trọng số của các tiêu chí làm cơ sở đưa ra quyết định lựa chọn đầu tư dự án là tối ưu, nhằm nâng cao hiệu quả dự án và sử dụng vốn phù hợp, tránh lãng phí.
Để giải quyết vấn đề này, một trong những cách tốt nhất là sử dụng mô hình phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP) là một công cụ hỗ trợ chúng ta đưa ra quyết định đa chỉ tiêu đã cho thấy hiệu quả trong thực tế đối với nhiều ngành, lĩnh vực về khoa học, nông nghiệp, kinh tế, y tế… 1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Mục tiêu tổng quát: Lựa chọn quyết định phù hợp để đầu tư công trình hạ tầng cấp nước tại tỉnh Bến Tre đảm bảo hiệu quả, bền vững nhất bằng phương pháp AHP. - Mục tiêu thực tế: + Xác định các tiêu chí ảnh hưởng đến quá trình quyết định đầu tư công trình HTCN tại Bến Tre. + Phân tích các tiêu chí và xây dựng một thư viện tiêu chí chọn lựa. + Đề xuất một quy trình đánh giá và hỗ trợ các nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên thư viện các tiêu chí bằng phương pháp AHP để lựa chọn được giải pháp đạt mục tiêu cao nhất.
+ Đánh giá tính ứng dụng của quy trình đề xuất áp dụng đối với thực tế.4 Phạm vi nghiên cứu - Dữ liệu được thu thập tại tỉnh Bến Tre. - Các đối tượng khảo sát, gồm: + Chủ đầu tư; + Ban quản lý dự án; + Tư vấn quản lý dựán; HVTH: Nguyễn Trọng Nguyễn Trang 5 GVHD1: TS. Phạm Hải Chiến GVHD2: PGS. Lương Đức Long + Tư vấn giám sát; + Tư vấn khảo sát, thiết kế; + Đơn vị thi công; + Cơ quan QLNN (quản lý nhà nước); + và Các đối tượng khác có liên quan; 1.5 Đóng góp của nghiên cứu 1.1 Đóng góp về mặt học thuật - Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quyết định đầu tư công trình Hạ Tầng Cấp Nước tại tỉnh Bến Tre.
- Xây dựng mô hình AHP lựa chọn quyết định đầu tư công trình Hạ Tầng Cấp Nước và áp dụng mô hình này vào dự án thực tế tại tỉnh Bến Tre. - Nghiên cứu này có thể là một tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu sau này.2 Đóng góp về mặt thực tiễn - Giúp các nhà đầu tư, các cơ quan nhà nước, ban quản lý dự án lựa chọn được phương án đầu tư hiệu quả hơn, giải quyết được vấn đề thiếu hụt nước trên địa bàn tỉnh. - Đề xuất các giải pháp thực tiến giúp các cơ quan quản lý nhà nước chủ động hơn trong việc lựa chọn một dự án phù hợp với tiềm năng khu vực tỉnh Bến Tre. - Xây dựng mô hình AHP lựa chọn phương án quyết định đầu tư công trình HTCN và áp dụng mô hình này vào dự án thực tế tại tỉnh Bến Tre.
HVTH: Nguyễn Trọng Nguyễn Trang 6 GVHD1: TS. Phạm Hải Chiến GVHD2: PGS. Lương Đức Long CHƯƠNG 2.1 Cáckhái niệm được sử dụng trong luận văn Quy hoạch xây dựng:là việc tổ chức không gian của đô thị, nông thôn và khu chức năng đặc thù; tổ chức hệ thống công trình HTKT, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng mục tiêu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu [19]. Dự án đầu tư xây dựng: là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định [19].
Người quyết định đầu tư: là cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng [19].